Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huyện Quỳ Hợp là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, địa hình chủ yếu là đồi núi bị chia cắt mạnh xen kẽ hệ thống sông suối dày đặc. Địa bàn huyện có vai trò quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đồng thời sở hữu tiềm năng lớn về lâm nghiệp, du lịch sinh thái và công nghiệp khai khoáng (đặc biệt là quặng thiếc, đá hoa trắng, đá xây dựng). Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên phức tạp cùng tính chất thời tiết cực đoan khiến Quỳ Hợp thường xuyên phải hứng chịu các dạng thiên tai, trong đó sạt lở bờ sông và trượt lở đất đồi núi là hai loại hình tai biến địa chất - thủy văn diễn biến nghiêm trọng nhất. Trong giai đoạn 2004–2013, các hiện tượng này gia tăng về quy mô và tần suất xuất hiện, phá hủy nhiều diện tích đất canh tác, vùi lấp hạ tầng giao thông và đe dọa trực tiếp đời sống dân sinh. Nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn và đề xuất giải pháp giảm thiểu thiệt hại, tác giả Hoàng Thị Chung thực hiện khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng, nguyên nhân, biện pháp phòng chống sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An" dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Tấn Viện tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (năm 2014).

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp; làm rõ các nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh; xác định các hậu quả thiệt hại đối với kinh tế - xã hội và môi trường; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình nhằm hạn chế, khắc phục hiện trạng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Tìm hiểu về thực trạng và hậu quả của tình trạng sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp.
  2. Tìm hiểu những nguyên nhân gây nên tình trạng sạt lở đất bờ sông và trượt lở đất trên địa bàn.
  3. Đưa ra các biện pháp phòng chống, giảm nhẹ sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng sạt lở bờ sông, trượt lở đất đồi núi, các nhân tố phát sinh và biện pháp phòng chống trên địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (tập trung chuyên sâu vào các xã trọng điểm như Châu Đình, Châu Lộc, Châu Quang, Châu Cường, Thọ Hợp, Tam Hợp, Châu Hồng, Nghĩa Xuân).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập và xử lý chuỗi số liệu thực tế trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2013–2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm và khung lý thuyết địa lý tự nhiên, địa mạo động lực và tai biến môi trường:

  • Khái niệm sạt lở đất và trượt lở đất: Sạt lở đất được định nghĩa là hiện tượng chuyển động của các khối đất đá, tảng vụn bị tách khỏi nền gốc ở trên cao dịch chuyển xuống dưới thấp, xảy ra phổ biến ở các sườn dốc hoặc ven bờ sông suối có tốc độ dòng chảy lớn.
  • Phân cấp mức độ sạt lở bờ sông: Văn bản phân chia sạt lở thành 3 cấp độ:
    1. Sạt lở đặc biệt nguy hiểm: Lấn sâu vào bờ từ 5m/năm trở lên, đe dọa trực tiếp khu dân cư tập trung, trụ sở cơ quan từ cấp huyện, sân bay, đường sắt, quốc lộ, hệ thống điện cao thế từ 66 kV trở lên.
    2. Sạt lở nguy hiểm: Lấn sâu từ 2 đến 4m/năm, đe dọa khu dân cư, tỉnh lộ, trường học, trạm y tế, di tích lịch sử.
    3. Sạt lở bình thường: Sạt lở nhỏ, ít ảnh hưởng hoặc không gây nguy hại tới các công trình quan trọng.
  • Phân loại trượt lở đất: Phân loại theo hình thái và tính chất chuyển động gồm: trượt lở theo chiều thẳng đứng, trượt lở theo mặt nghiêng của địa hình, trượt lở do sụt lún và trượt lở theo dòng chảy của nước.
  • Khung cơ chế phát sinh tai biến: Khóa luận phân tích tổ hợp nhân tố tự nhiên và nhân sinh:
    • Cơ chế sạt lở bờ sông: Cấu tạo đất cát bùn có tính chất cơ lý thấp; tốc độ dòng chảy mạnh tạo hàm ếch sụt mái bờ; mực nước lũ dâng cao; mất thảm thực vật giữ đất ven bờ; khai thác cát sỏi đáy sông làm đổi dòng và hạ thấp đáy; phương tiện giao thông đường bộ (xe tải, công nông) lội qua sông vào mùa cạn tạo sóng ngang vỗ bờ; gia tăng tải trọng xây dựng trên mái bờ.
    • Cơ chế trượt lở đồi núi: Độ dốc địa hình (trượt lở mạnh nhất ở bậc dốc 35°–45°); thạch học và vỏ phong hóa (vỏ phong hóa ferosialit, sialferit và trầm tích Đệ Tứ bở rời aluvi, proluvi, deluvi); mật độ đứt gãy kiến tạo (mật độ 0,84–1,12 km/km² ghi nhận trượt lở cao nhất); phân cắt sâu và phân cắt ngang địa hình; lượng mưa lớn tập trung (>2800 mm/năm); mức độ chứa nước ngầm (đới nghèo nước và giàu nước cục bộ); suy giảm độ che phủ thực vật do mất rừng tự nhiên và khai thác khoáng sản (khai thác đá vôi, quặng thiếc) phá vỡ cân bằng sườn dốc.

Quan điểm nghiên cứu được tác giả quán triệt gồm: Quan điểm tổng hợp lãnh thổ, Quan điểm lịch sử - viễn cảnh, và Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập số liệu, báo cáo chuyên đề từ các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và các nghiên cứu khoa học liên quan.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn, địa chất, thiệt hại thiên tai để rút ra các quy luật biến động không gian và thời gian.
  • Phương pháp bản đồ: Sử dụng bản đồ hành chính, sơ đồ sông ngòi, sơ đồ phân vùng nguy cơ trượt lở đất đá tỉnh Nghệ An và các sơ đồ kỹ thuật công trình bảo vệ.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát trực tiếp tại các điểm nóng sạt lở bờ sông (sông Dinh, sông Nậm Tôn, sông Nậm Huống) và các sườn dốc trượt lở đồi núi trên địa bàn huyện Quỳ Hợp.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài được cung cấp trực tiếp bởi Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cùng Chi cục/Phòng Thống kê huyện Quỳ Hợp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiện tượng sạt lở bờ sông và trượt lở đất, đồng thời phân tích cơ sở thực tiễn của địa bàn miền núi. Tác giả làm rõ các khái niệm, cơ chế động lực hình thành vết nứt, tạo hàm ếch dưới chân bờ và sụp đổ mái dốc. Đối với trượt lở đồi núi, chương này tổng hợp các mối tương quan định lượng giữa mức độ trượt lở với các yếu tố tự nhiên:

Yếu tố tự nhiên Đặc tính/Phân cấp Mức độ trượt lở ghi nhận
Độ dốc sườn 35° – 45° Lớn nhất
25° – 35° và 15° – 25° Trung bình
> 45° Rất ít trượt lở (chủ yếu là đổ lở đá)
Lượng mưa năm 3200 – 3600 mm/năm Mạnh nhất
> 3600 mm/năm và 2800 – 3200 mm/năm Khá mạnh
Mật độ đứt gãy 0,84 – 1,12 km/km² Cao nhất
> 1,12 km/km² hoặc < 0,28 km/km² Thấp
Độ che phủ thực vật 20% – 45% (đất canh tác, xây dựng, giao thông) Mạnh nhất
> 90% (rừng tự nhiên) hoặc < 20% (đất thổ cư) Rất yếu
Vỏ phong hóa Ferosialit, trầm tích Đệ Tứ hỗn hợp (aluvi, proluvi) Lớn nhất

Về mặt thực tiễn, chương chỉ ra 6 vấn đề nổi cộm tại Quỳ Hợp: (1) Lũ lụt tập trung mùa mưa (tháng 8, 9, 10 chiếm 3/4 lượng mưa cả năm); (2) Thiếu nước sinh hoạt mùa khô; (3) Tập quán canh tác lạc hậu (du canh, phá rừng làm nương rẫy); (4) Khai thác khoáng sản (đá, cát sỏi, thiếc) ồ ạt thiếu quy hoạch; (5) Ô nhiễm môi trường nguồn nước từ xí nghiệp mỏ; (6) Diễn biến sạt lở bờ sông và trượt lở đất gia tăng thất thường.

Chương 2: Thực trạng sạt lở bờ sông, trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp

Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quỳ Hợp (diện tích 94.172,8 ha; tọa độ 19°10'–19°29'B, 104°56'–105°21'Đ; địa chất phức tạp thuộc đới nâng Pù Hoạt và vòm nâng Pù Khạng 380 km²; dân số gồm 3 dân tộc chính: Kinh 47%, Thái 40,7%, Thổ 12,1%). Trên cơ sở đó, chương đánh giá chi tiết thực trạng hai loại hình tai biến:

Thực trạng sạt lở bờ sông: Huyện có 5 sông chính và khoảng 60 sông suối lớn nhỏ với tổng chiều dài 2.435 km. Tổng diện tích đất ven sông suối là 1.427,45 ha. Hằng năm, Quỳ Hợp mất bình quân hơn 200 ha đất do sạt lở bờ sông (riêng đất nông nghiệp mất 150–170 ha/năm). Tốc độ lấn bờ sông Dinh đạt 5–6 m/năm; sông Nậm Chọng, sông Nậm Tôn từ 3–4 m/năm; các sông suối nhỏ từ 0,2–0,5 m/năm.

Địa bàn trọng điểm Con sông ảnh hưởng Thực trạng sạt lở và thiệt hại ghi nhận trong văn bản
Xã Châu Đình (xóm Điểm, Cáng, Thịnh, Căng, Mỹ Tân, Bản Rốc) Sông Dinh (đoạn qua xã dài 4,5 km) Giai đoạn 2012–2013 mất 90 ha đất sản xuất và đất ở. Riêng năm 2013 mất 30 ha mía, 40 ha đất nông nghiệp, hư hại 1 cầu xi măng và 3 căn nhà; 9 hộ có nhà cách mép sạt lở 0–20m cần di dời khẩn cấp.
Xã Châu Lộc & Châu Quang Sông Nậm Tôn Mưa bão năm 2013 làm Bản Ính (Châu Lộc) mất hơn 8 ha ruộng lúa (4 hộ mất trắng). Toàn xã Châu Lộc sạt lở, bồi lấp gần 19 ha; 13/13 đập thủy lợi hư hỏng (đập Bản Khục bồi lấp 100%, mất tưới 30 ha cho 4 xóm). Xã Châu Quang mất 15 ha đất sản xuất; 5 hộ mất trắng ruộng lúa 2 vụ.
Xã Tam Hợp (xóm Quyết Tiến, Tân Tiến, Tân Mùng, Vặc) Sông Dinh Từ 2004 đến 2014 cuốn trôi hơn 30 ha đất sản xuất và đất thổ cư; gần 100 hộ dân bị đe dọa trực tiếp do lở đất lấn sát vườn, nhà.
Bản Mường Ham (Xã Châu Cường) Sông Nậm Huống Năm 2012 mất gần 3 ha đất ruộng (tổng 16 ha còn 13 ha); sạt lở 50m mương; dòng sông đổi dòng chảy thẳng vào khu dân cư bản Mường Ham; 27 hộ cuối nguồn mất đất và thiếu nước canh tác.
Xã Thọ Hợp (xóm Sơn Tiến) Sông Dinh Bờ sông dài 1,2 km sạt lở sâu vào khu dân cư gần 200m; cuốn trôi 5 nhà dân và 7 ha đất sản xuất. Từ 2010 đến 2014 toàn xã xói lở hơn 15 ha đất, 3 nhà trôi sông, 50 hộ nằm trong vùng nguy cơ.

Thực trạng trượt lở đất đồi núi: Theo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quỳ Hợp (năm 2013), huyện có 1.467,92 ha đồi núi chưa sử dụng, 3.805,83 ha núi đá không rừng cây, 5.442,75 ha đồi núi không có cây trồng/đá trọc và 1.600 ha đất cấp phép khai thác khoáng sản. Toàn huyện ghi nhận 153 điểm trượt lở đất đồi núi trên diện tích 10.438 km²:

  • 11 điểm trượt lở quy mô lớn (chiếm 10,45%).
  • 37 điểm trượt lở quy mô trung bình (chiếm 24,2%).
  • 105 điểm trượt lở quy mô nhỏ.

Năm 2012, diện tích trượt lở đồi núi toàn huyện đạt 570 ha (trong đó trượt lở do mất rừng là 240,6 ha — tăng từ mức 134,5 ha năm 2010; do khai thác khoáng sản là 234,5 ha). Trượt lở đất đá năm 2012 đã làm vùi lấp khoảng 57 ha đất sản xuất nông nghiệp và khiến 3 người thiệt mạng. Tác giả tổng hợp mức độ nguy cơ trượt lở tại một số xã:

Xã Mức nguy cơ trượt lở rất cao Mức nguy cơ trượt lở cao Mức trung bình / Rất yếu
Nghĩa Xuân 64,02 km² (43,5%) 50,56 km² (34,5%) —
Châu Hồng 13,21 km² (10,1%) 60,25 km² (46,19%) Trung bình: 27,81 km² (21,32%); Rất yếu: 2,79 km² (2,21%)
Châu Lộc 19,61 km² (17,0%) 48,64 km² (40,73%) —

Tại dốc Đá Đen (xã Châu Thành, chiều dài tuyến 3 km), mưa lớn đầu tháng 9 gây ra hàng chục điểm trượt lở, trong đó có 3 điểm nghiêm trọng với hàng trăm mét khối đất đá từ độ cao vài chục mét đổ sập xuống gây tê liệt giao thông.

Chương 3: Nguyên nhân và biện pháp phòng chống sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp

Chương 3 tổng hợp và đối chiếu các nhóm nguyên nhân phát sinh tai biến, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục cụ thể:

Nguyên nhân sạt lở bờ sông:

  1. Dòng chảy tự nhiên và lũ dâng trong mùa mưa bão (chiếm 80–87% lượng mưa cả năm, lưu lượng nước dồn nhanh làm xói chân bờ tạo hàm ếch).
  2. Tác động của phương tiện giao thông vận tải đường bộ (xe tải, xe công nông chở cát sỏi chạy qua lòng sông mùa cạn tạo sóng ngang đập mạnh vào bờ).
  3. Hoạt động khai thác cát sỏi lòng sông không quy hoạch làm hạ thấp đáy sông và thay đổi hướng dòng chảy chính.
  4. Gia tăng tải trọng trên mái bờ (xây dựng nhà cửa, công trình sát mép nước).
  5. Suy giảm thảm thực vật ven bờ sông suối.

Nguyên nhân trượt lở đồi núi:

  1. Lượng mưa lớn hoặc mưa kéo dài (đặc biệt các tháng 8, 9, 10 và các đợt hoàn lưu bão).
  2. Hoạt động khai thác khoáng sản (khai thác đá vôi, mở moong khai thác quặng thiếc làm mất chân sườn dốc).
  3. Nạn chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy, tập quán du canh du cư làm trơ sỏi đá bề mặt.
  4. Điều kiện địa chất - địa mạo bất lợi (độ dốc sườn lớn 35°–45°, vỏ phong hóa dày 30–40m kém liên kết, mật độ đứt gãy kiến tạo cao).

Biện pháp phòng chống sạt lở bờ sông:

  • Giải pháp công trình: Xây dựng hệ thống kè rọ đá, rọ GA; thi công kè lát mái bằng thảm vải địa kỹ thuật; đắp đập giảm nước, giảm lưu tốc dòng chảy; triển khai công trình nắn dòng chảy tại các đoạn sông uốn khúc (như công trình nắn dòng sông Nậm Tôn tại bản Cù, xã Châu Quang để bảo vệ đường liên xã và cứu lở cho 50 ha lúa).
  • Giải pháp phi công trình: Trồng cây chắn sóng và bảo vệ bờ bằng các dải cây ngập nước, tre, cỏ giữ đất; cấm xe cơ giới chạy qua lòng sông trái phép vào mùa khô; quản lý và đình chỉ khai thác cát sỏi bừa bãi; di dời khẩn cấp 295 hộ dân sinh sống trong phạm vi mép sạt lở nguy hiểm (hiện mới có 73 hộ có kế hoạch di dời).

Biện pháp phòng chống trượt lở đồi núi:

  • Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, phủ xanh 5.442,75 ha đồi núi trọc và núi đá không cây; thực hiện giao đất giao rừng, chuyển đổi phương thức lâm nghiệp xã hội.
  • Giám sát nghiêm ngặt quy trình khai thác đá vôi và khoáng sản, nghiêm cấm bạt sườn tạo vách đứng mất an toàn.
  • Xây dựng hệ thống thoát nước mặt và rãnh phân lũ trên các sườn dốc, taluy đường giao thông trọng yếu (như tuyến dốc Đá Đen xã Châu Thành).
  • Nâng cao năng lực cảnh báo sớm thiên tai tại các xã có nguy cơ trượt lở rất cao (Nghĩa Xuân, Châu Hồng, Châu Lộc).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Khóa luận đã lượng hóa toàn diện thiệt hại do sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại Quỳ Hợp: bình quân mất hơn 200 ha đất ven sông/năm (150–170 ha đất nông nghiệp); năm 2012 sạt lở cuốn trôi 8 nhà bê tông, trượt lở đồi núi làm chết 3 người, vùi lấp 57 ha đất mùa màng với tổng diện tích trượt 570 ha.
  • Xác định và lập danh mục chi tiết 5 điểm nóng sạt lở bờ sông dọc sông Dinh, Nậm Tôn, Nậm Huống tại các xã Châu Đình, Châu Lộc, Châu Quang, Châu Cường, Thọ Hợp, Tam Hợp.
  • Thống kê toàn diện 153 điểm trượt lở đất đồi núi trên địa bàn 10.438 km², đồng thời làm rõ tỷ lệ nguy cơ trượt lở tại 3 xã trọng điểm: Nghĩa Xuân (43,5% nguy cơ rất cao), Châu Hồng (10,1% nguy cơ rất cao, 46,19% nguy cơ cao), Châu Lộc (17% nguy cơ rất cao, 40,73% nguy cơ cao).
  • Chỉ rõ xung đột giữa hoạt động phát triển kinh tế (khai thác quặng thiếc, khai thác đá xây dựng, hút cát sỏi, giao thông đường bộ đáy sông) với tính bền vững của môi trường địa mạo.

Giải pháp đề xuất:

  • Đề xuất mô hình kết hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình (kè rọ đá, rọ GA, kè thảm vải địa kỹ thuật, đập giảm nước, nắn dòng) và giải pháp phi công trình (trồng rừng phòng hộ, quy hoạch khoáng sản, di dời 295 hộ dân vùng nguy hiểm).

Đóng góp của đề tài:

  • Khóa luận là công trình nghiên cứu địa lý địa phương tập trung chuyên biệt đầu tiên về hai dạng tai biến sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại huyện Quỳ Hợp, khắc phục tình trạng thiếu hụt tài liệu khoa học chi tiết và số liệu đồng bộ tại địa bàn này trước năm 2014.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế:

  • Nguồn tài liệu và số liệu thống kê chuyên ngành về tai biến địa chất tại địa phương trong giai đoạn nghiên cứu còn ít, phân tán và chưa thực sự đồng bộ giữa các ban ngành.
  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong địa giới hành chính huyện Quỳ Hợp từ năm 2004 đến 2014, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát chuyên sâu về mặt vi địa chất và trắc đạc cơ học đất đá tại toàn bộ 153 điểm trượt lở.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Thiết lập mạng lưới quan trắc định kỳ về tốc độ dịch chuyển mái dốc và tốc độ xói lở mép bờ sông tại các xã trọng điểm.
  • Ứng dụng công nghệ hệ thông tin địa lý (GIS) và viễn thám để cập nhật bản đồ nhạy cảm trượt lở đất theo thời gian thực.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lý học, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Địa chất công trình, Thủy lợi khi thực hiện các đồ án, khóa luận về tai biến thiên nhiên khu vực miền núi.
  • Cán bộ quản lý tại UBND huyện Quỳ Hợp, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường trong công tác lập quy hoạch phòng chống lụt bão, kế hoạch di dời dân cư và cấp phép khai thác tài nguyên khoáng sản.
  • Tài liệu cung cấp chuỗi số liệu thực địa chi tiết về địa chất, mạng lưới sông ngòi và hiện trạng thiên tai của vùng Tây Bắc Nghệ An giai đoạn 2004–2014.

Câu hỏi thường gặp

1. Những con sông nào tại huyện Quỳ Hợp xảy ra tình trạng sạt lở bờ nghiêm trọng nhất?
Tình trạng sạt lở bờ diễn ra phức tạp nhất tại 3 lưu vực sông chính: sông Dinh (đoạn qua xã Châu Đình, Thọ Hợp, Tam Hợp với tốc độ sạt lở 5–6 m/năm), sông Nậm Tôn (đoạn qua xã Châu Lộc, Châu Quang với tốc độ sạt lở 3–4 m/năm) và sông Nậm Huống (đoạn qua bản Mường Ham, xã Châu Cường).

2. Toàn huyện Quỳ Hợp có bao nhiêu điểm trượt lở đất đồi núi và phân bố quy mô như thế nào?
Toàn huyện ghi nhận 153 địa điểm xảy ra trượt lở đất đồi núi trên diện tích 10.438 km², bao gồm 11 điểm trượt lở quy mô lớn (chiếm 10,45%), 37 điểm trượt lở quy mô trung bình (chiếm 24,2%) và 105 điểm trượt lở quy mô nhỏ.

3. Xã nào tại Quỳ Hợp có nguy cơ trượt lở đất đá cao nhất?
Xã Nghĩa Xuân là địa bàn có nguy cơ trượt lở cao nhất huyện với 64,02 km² diện tích đất đá thuộc mức nguy cơ rất cao (chiếm 43,5% diện tích xã) và 50,56 km² thuộc mức nguy cơ cao (chiếm 34,5%). Tiếp sau là xã Châu Hồng (10,1% rất cao, 46,19% cao) và xã Châu Lộc (17% rất cao, 40,73% cao).

4. Hoạt động nhân sinh nào tác động trực tiếp làm gia tăng sạt lở bờ sông và trượt lở đất tại Quỳ Hợp?
Văn bản xác định rõ các hoạt động nhân sinh gồm: khai thác cát sỏi dưới lòng sông làm đổi dòng chảy; xe tải và công nông chạy qua lòng sông vào mùa cạn tạo sóng ngang phá chân bờ; khai thác đá vôi và quặng thiếc làm mất cân bằng sườn dốc; nạn chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy làm mất thảm thực vật che phủ.

5. Các giải pháp công trình chính được tác giả đề xuất để bảo vệ bờ sông tại Quỳ Hợp là gì?
Tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật công trình gồm: xây dựng hệ thống bờ kè rọ đá và rọ GA; thi công kè lát mái bằng thảm vải địa kỹ thuật; đắp đập giảm nước để hạn chế lưu tốc dòng chảy; và triển khai các công trình nắn dòng chảy tại các đoạn uốn khúc xung yếu (như mô hình nắn dòng tại bản Cù, xã Châu Quang).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Thị Chung đã phác thảo bức tranh toàn diện và khách quan về hiện trạng tai biến sạt lở bờ sông cùng trượt lở đất đồi núi tại huyện Quỳ Hợp giai đoạn 2004–2014. Bằng phương pháp nghiên cứu địa lý kết hợp khảo sát thực địa và phân tích chuỗi số liệu thống kê, đề tài đã chỉ rõ nguyên nhân phát sinh từ sự cộng hưởng giữa điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và các hoạt động kinh tế nhân sinh thiếu kiểm soát. Các giải pháp công trình (kè rọ đá, kè thảm vải địa kỹ thuật, nắn dòng) và phi công trình (trồng rừng, di dời 295 hộ dân, quản lý khai thác mỏ) được đề xuất có tính khả thi cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho chiến lược phát triển bền vững và giảm nhẹ thiên tai tại địa phương.