CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ CỦA MÔ HÌNH NHÀ CHỐNG BÃO 1. Lí luận về phân tích lợi ích – chi phí 1. Giới thiệu về phân tích lợi ích – chi phí Khái niệm phân tích lợi ích – chi phí (CBA) được đưa ra lần đầu tiên vào giữa thế kỉ XIX và đến những năm 90 của thế kỉ trước thì phân tích lợi ích chi phí không ngừng được hoàn thiện ở cả châu Âu và nước Mỹ, được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau (Nguyễn Bá Thọ, 2012). Có nhiều khái niệm về phân tích lợi ích - chi phí được đưa ra: “Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội”(J.Sinden) “Phân tích lợi ích – chi phí là một khung phân tích có hệ thống cho việc thẩm định kinh tế các dự án tư và công được đề xuất trên quan điểm xã hội nói chung” (H.
“Phân tích kinh tế, còn gọi là phân tích lợi ích – chi phí, là phân tích mở rộng của phân tích tài chính, … được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và các cơ quan quốc tế để xem xét một dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay không” (Frances Perkins, 1994). “Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá chính sách mà phương pháp này lượng hóa bằng tiền giá trị của tất cả các kết quả của chính sách đối với tất cả mọi thành viên trong xã hội nói chung. Lợi ích xã hội ròng (NSB = B – C) là thước đo giá trị của chính sách” (Boardman, 2001). Như vậy, Phương pháp phân tích lợi ích chi phí (cost benefit analysis – viết tắt là CBA) là một công cụ của chính sách, là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra những chính sách hợp lý về sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh trong các chương trình, kế hoạch 5 phát triển kinh tế xã hội.
Phương pháp CBA sẽ đưa ra so sánh những lợi ích thu về do các hoạt động phát triển đem lại với những chi phí và tổn thất do việc thực hiện chúng gây ra. Phân tích lợi ích – chi phí có 2 nhóm chính là phân tích tài chính và phân tích kinh tế. Phân tích tài chính đánh giá việc sử dụng tài nguyên trên quan điểm cá nhân, trong đó người phân tích thường chỉ quan tâm đến các lợi ích và chi phí trực tiếp của dự án (được ước tính thông qua giá thị trường). Phân tích kinh tế nhìn nhận các phương án sử dụng tài nguyên trên quan điểm xã hội, quan tâm đồng thời các dòng chi phí – lợi ích trực tiếp và gián tiếp.
Ngoài ra các điều chỉnh được thực hiện để loại bỏ sai lệch về giá trị có thể gây ra bởi những yếu tố như: Can thiệp của chính phủ (thuế, trợ cấp,.) các hàng hóa phi ngoại thương, hàng hóa công. Mục đích sử dụng CBA - Đối với các nhà hoạch định chính sách, CBA là công cụ thiết thực hỗ trợ cho việc ra quyết định phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. - Phương pháp CBA có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau. Có thể được tiến hành trước khi dự án được thực thi (Ex-ante CBA), tiến hành sau khi dự án được thực thi để xem lợi ích mang lại có lớn hơn chi phí không (Ex-post CBA), hoặc được tiến hành trong suốt thời kì thực thi dự án (In medias res CBA) (Boardman, 2001).
Từ đó chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về toàn bộ dự án, những khó khăn mắc phải, những nguyên nhân chính và hướng giải quyết, đồng thời rút ra được những bài học kinh nghiệm khi tiến hành các dự án tương tự. - Phương pháp CBA giúp lượng hóa toàn bộ những lợi ích cũng như chi phí mà mỗi phương án có thể đem lại, và từ kết quả phân tích đó chúng ta sẽ lựa chọn được phương án phù hợp với mục tiêu đề ra. Kết quả của sự lựa chọn này sẽ đảm bảo độ tin cậy cao hơn. Đây thực sự là một công cụ có hiệu quả cho việc đưa ra quyết định.
Tuy nhiên, CBA cũng có một số hạn chế chưa khắc phục được, do đó CBA chỉ có ý nghĩa bổ sung cho quá trình ra quyết định, chứ không thay thế việc ra quyết định. Các phương pháp sử dụng trong CBA. a) Phương pháp phân tích bằng biểu đồ, đồ thị Người ta sử dụng hình thức thể hiện trực quan để phát triển chi phí và lợi ích trên cơ sở đó giúp cho các nhà quản lí, các nhà theo dõi và vận hành dự án có thể nắm bắt nhanh tiến trình biến đổi trong chi phí qua các năm. 6 b) Phương pháp phân tích bằng các chỉ tiêu giá trị Giá trị hiện tại ròng (Net present value – NPV).
Giá trị hiện tại ròng là tổng lãi ròng của cả đời dự án được chiết khấu về năm hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu nhất định. n n Bt Ct NPV= t 0 (1 i ) t - (1 i) t 0 t Trong đó: Bt: Thu nhập (lợi ích) dự án năm t Ct: Chi phí dự án năm t i: Suất chiết khấu của dự án t: Năm thời gian thực hiện dự án (tính bằng năm) Tiêu chuẩn lựa chọn dự án dựa vào NPV: Các tiêu chí Trường NPV NPV Kết luận hợp tài chính kinh tế 1 >0 >0 Thực hiện dự án 2 >0 <0 Không thực hiện dự án 3 <0 <0 Không thực hiện dự án 4 <0 >0 Thực hiện dự án, Chính phủ xem xét hỗ trợ cho đơn vị thực hiện dự án Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, 2012 Ưu điểm - Cho biết quy mô tiền lãi thu được của cả đời dự án Nhược điểm - Phụ thuộc nhiều vào lãi suất chiết khấu - Đòi hỏi xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của cả đời dự án => khó - Chưa nói lên hiệu quả sử dụng một đồng vốn - Chỉ sử dụng để lựa chọn các dự án loại bỏ nhau trong trường hợp tuổi thọ như nhau 7 Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal Rate of Return). Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó để quy đổi dòng tiền tệ của dự án thì giá trị hiện tại thực thu nhập bằng giá trị hiện tại thực chi phí. IRR= =0 ( ) Tiêu chuẩn lựa chọn dự án: IRR ≥ r với r là chi phí sử dụng vốn hoặc tỷ suất sinh lời yêu cầu của nhà đầu tư Đối với các phương án loại trừ nhau, tiêu chuẩn hiệu quả là IRR ≥ r và IRR lớn nhất.
Ưu điểm: - Cho biết lãi suất tối đa mà dự án có thể chấp nhận được. Nhược điểm: - Tốn nhiều thời gian: Khi dòng tiền đổi dấu nhiều lần. - Khi có các dự án loại bỏ nhau, việc sử dụng IRR để chọn sẽ dễ dàng đưa đến bỏ qua dự án có quy mô lãi ròng lớn. - Khó xác định được IRR khi dự án có đầu tư bổ sung lớn làm cho NPV thay đổi dấu nhiều lần.
Tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C – Benefit /Cost) Tỷ số lợi ích trên chi phí là tỷ số giữa giá trị hiện tại của lợi ích thu được với giá trị hiện tại của chi phí bỏ ra. giá tri hiện tại của lợi ích / = giá trị hiện tại của chi phí n 1 B (1 i) B t 0 t t n C 1 C (1 i) t t Ưu điểm t 0 - Cho biết hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra. Nhược điểm - Phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu lựa chọn để tính toán. - Dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại bỏ nhau, có thể bỏ qua NPV lớn (vì thông thường phương án có NPV lớn thì có B/C nhỏ).
- Tùy thuộc vào quan niệm về lợi ích và chi phí của người đánh giá. 8 Tiêu chuẩn lựa chọn dự án: B/C > 1 Chú ý khi dùng B/C - Đôi khi phạm phải sai lầm (hay làm thay đổi vị thế của các dự án) nếu vốn đầu tư ban đầu của các dự án khác nhau. - Thứ tự xếp hạng dự án theo B/C có thể đảo lộn so với cách xếp hạng dự án theo NPV. - Mối quan hệ giữa NPV, BCR, IRR với khả năng sinh lợi của dự án được thể hiện qua bảng sau: Trường hợp NPV BCR IRR Lãi >0 >1 >r Lỗ <0 <1 <r Hòa vốn =0 =1 =r Nguồn: Tác giả tổng hợp 1.
Các bước thực hiện CBA Có 8 bước phân tích CBA như sau: Bước 1: Nhận dạng vấn đề Việc xác định vấn đề cần ra quyết định là bước đầu tiên trong CBA. Ngoài ra cũng cần phải xác định phạm vi phân tích: Địa phương, vùng, tỉnh hay quốc gia ? Một dự án đáng giá sẽ đóng góp vào phúc lợi kinh tế của quốc gia, có khả năng làm cho mọi người đều được lợi. Tuy nhiên không phải ai cũng được hưởng lợi từ dự án lại không nhất thiết là những người chịu chi phí của dự án. Bước 2: Xác định các phương án giải quyết Đối với một dự án đầu tư thường có nhiều phương án để chọn, việc chọn lựa các phương án gặp phải một số khó khăn như: Việc lựa chọn các phương án tùy thuộc vào số tiêu chí cần xem xét đối với mỗi dự án cụ thể.
Xác định quy mô dự án, có một số hướng dẫn để lựa chọn quy mô tối ưu như dựa vào hiện giá thuần biên (MNPV) hay tỷ suất sinh lợi nội tại cận biên (MIRR) Bước 3: Nhận dạng các lợi ích và chi phí Một khi dự án đã được xác định, tất cả các chuyên gia trong các lĩnh vực có liên quan sẽ giúp các tác động có thể có của dự án. Trong bước này, tất cả các tác động 9 trực tiếp hay gián tiếp, hữu hình hay vô hình đều phải được xác định. Lưu ý “tác động” bao hàm các nhập lượng và xuất lượng hay đúng hơn là các chi phí và lợi ích có thể có của dự án. Đồng thời cũng xác định các đơn vị đo lường các lợi ích và chi phí đó.
Trong phân tích lợi ích – chi phí, các nhà phân tích chỉ quan tâm đến các tác động có ảnh hưởng đến sự thỏa dụng của các cá nhân thuộc phạm vi quan tâm của dự án.