Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế. Mặc dù công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã mang lại nhiều thành tựu tăng trưởng kinh tế, sự phân hóa và chênh lệch phát triển giữa các vùng miền vẫn tồn tại rõ rệt. Khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới — nơi chiếm phần lớn lực lượng lao động nông nghiệp — vẫn là những "lõi nghèo" với điều kiện sống và sản xuất hết sức khó khăn.

Xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên là một xã vùng cao biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, có địa hình phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều và nền kinh tế mang tính chất thuần nông tự cấp tự túc. Tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương luôn ở mức rất cao, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, dịch bệnh và sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng thiết yếu. Việc nghiên cứu thực trạng và tìm kiếm các giải pháp giảm nghèo bền vững, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương, là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vàng A Chìa (Chuyên ngành Khuyến nông, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, thực hiện năm 2015 dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Thị Minh Hà) được xây dựng nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giảm nghèo tại xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước đưa xã thoát nghèo bền vững.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá tình trạng nghèo tại xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012 - 2014.
    • Nghiên cứu, xác định những nguyên nhân và nhân tố chính dẫn đến nghèo đói ở xã Phìn Hồ.
    • Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo cho xã Phìn Hồ trong những năm tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân (hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo) trên địa bàn xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, tập trung khảo sát chuyên sâu tại 4 bản đại diện: Phìn Hồ, Đề Pua, Đệ Tinh II và Chăn Nuôi.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong giai đoạn 3 năm (2012 - 2014); số liệu sơ cấp điều tra hộ tập trung vào năm 2014. Thời gian triển khai thực hiện đề tài tại cơ sở từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và chuẩn mực nghèo đói

Khóa luận hệ thống hóa các quan niệm quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật trong nước về nghèo đói:

  • Quan niệm quốc tế: Tiếp cận định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dựa trên thu nhập (người nghèo có thu nhập ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia); khái niệm của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1993) về việc không thỏa mãn nhu cầu cơ bản; định nghĩa tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Xã hội (Copenhagen, 1995) với chuẩn 1 USD/ngày; và quan niệm về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối của Robert McNamara (Ngân hàng Thế giới - WB).
  • Văn bản và chuẩn nghèo quốc gia tại Việt Nam:
    • Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 (khu vực nông thôn là từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống; thành thị từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống).
    • Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015 (hộ nghèo nông thôn: thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống; cận nghèo nông thôn: 401.000 - 520.000 đồng/người/tháng).
    • Quy trình 12 bước tổng điều tra rà soát hộ nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) ban hành.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong khuyến nông và phát triển nông thôn:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê hàng năm của UBND xã Phìn Hồ; số liệu từ UBND huyện Nậm Pồ (Quyết định số 708/QĐ-UBND); các báo cáo tổng hợp của Bộ LĐ-TB&XH (Quyết định số 529/QĐ-LĐTBXH năm 2014); tài liệu của WB và UNDP.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Chọn điểm điều tra: Lựa chọn 4 bản đại diện gồm 2 bản đặc biệt khó khăn, xa trung tâm, chưa có điện lưới (Phìn Hồ, Đề Pua) và 2 bản gần trung tâm có điều kiện thuận lợi hơn về giao thông, thủy lợi (Đệ Tinh II, Chăn Nuôi).
    • Chọn mẫu điều tra: Khảo sát ngẫu nhiên phân tầng $n = 60$ hộ gia đình theo danh sách quản lý năm 2014 của xã, phân bổ theo các nhóm hộ.
    • Công cụ thu thập: Quan sát hiện trường, bảng câu hỏi điều tra hộ gia đình soạn sẵn, phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) với cán bộ xã và trưởng bản.
  • Phương pháp tổng hợp, xử lý dữ liệu: Nhập liệu và phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ trên phần mềm Microsoft Excel.
STT Nhóm hộ Bản Phìn Hồ Bản Đề Pua Bản Đệ Tinh II Bản Chăn Nuôi Tổng mẫu (Hộ)
1 Hộ thoát nghèo 2 3 3 2 10
2 Hộ cận nghèo 5 5 5 5 20
3 Hộ nghèo 8 7 7 8 30
Tổng Toàn bộ mẫu 15 15 15 15 60

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói chung và khu vực miền núi phía Bắc nói riêng. Giới thiệu khái quát vị trí địa bàn nghiên cứu tại xã Phìn Hồ (huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên), xác lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu chung, mục tiêu cụ thể và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp ngành Khuyến nông.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đói nghèo, các cách phân loại nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nguyên nhân dẫn đến nghèo (nhóm nguyên nhân tự nhiên, nhóm chủ quan của người nghèo và nhóm cơ chế chính sách). Trình bày diễn biến chuẩn nghèo của Việt Nam qua 6 giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2015 và quy trình rà soát hộ nghèo 12 bước. Tổng thuật thực trạng giảm nghèo trên thế giới (báo cáo UNDP 2014, WB 2014), kinh nghiệm giảm nghèo tại Hàn Quốc, Đài Loan, các nước ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Philippines, Malaysia) và Trung Quốc. Tổng quan thực trạng nghèo tại Việt Nam theo Quyết định 529/QĐ-LĐTBXH (tỷ lệ nghèo cả nước năm 2013 còn 7,80%), tại tỉnh Điện Biên (giảm xuống 32,5% năm 2014) và huyện Nậm Pồ (huyện mới thành lập năm 2012 theo Quyết định 708/QĐ-UBND).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng là các hộ nông dân trên địa bàn xã Phìn Hồ; phạm vi thời gian nghiên cứu (2012 - 2014 cho số liệu thứ cấp, 2014 cho số liệu sơ cấp, thực địa từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015). Quy định nội dung nghiên cứu gồm: đặc điểm địa bàn, thực trạng nghèo, nguyên nhân nghèo và các giải pháp đề xuất. Chi tiết hóa phương pháp chọn mẫu khảo sát 60 hộ tại 4 bản, các phương pháp thu thập sơ cấp (quan sát, bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, PRA), thu thập thứ cấp và kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung vào 3 nội dung cốt lõi:

  1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Xã Phìn Hồ có diện tích tự nhiên 11.491,26 ha, dân số 572 hộ với 3.165 nhân khẩu phân bổ ở 7 bản, gồm 4 dân tộc (Kinh, Thái, Mông, Hoa/Xạ Phang), đường biên giới với Lào dài 4,9 km. Đất nông nghiệp có 719,8 ha, đất lâm nghiệp có rừng 1.052,29 ha (độ che phủ 9,1%). Sản lượng lương thực có hạt năm 2014 đạt 11.259,35 tấn (thóc 10.962,25 tấn, ngô 1.297,1 tấn), bình quân lương thực đạt 340 kg/người/năm. Đàn trâu năm 2014 có 1.457 con. Về hạ tầng: 18/27,5 km đường liên xã và 8/22 km đường liên bản đã cứng hóa; 3/7 bản chưa có điện lưới (tỷ lệ hộ dùng điện đạt 43%).
  2. Thực trạng nghèo giai đoạn 2012 - 2014: Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm từ 63,0% (2012) xuống mức thấp hơn vào năm 2013, nhưng đến năm 2014 tăng trở lại lên 58,73% (306 hộ nghèo, 71 hộ cận nghèo chiếm 13,63%, 144 hộ thoát nghèo chiếm 27,64%). Nguyên nhân tỷ lệ nghèo tăng năm 2014 do thiên tai lũ quét gây mất mùa, dịch bệnh trên đàn vật nuôi và phát sinh các hộ mới tách gia đình thiếu tư liệu sản xuất.
STT Phân loại hộ tại xã Phìn Hồ (Năm 2014) Số lượng (Hộ) Tỷ lệ cơ cấu (%)
1 Hộ nghèo 306 58,73
2 Hộ cận nghèo 71 13,63
3 Hộ thoát nghèo 144 27,64
Tổng Toàn xã 521 100,00
  1. Phân tích nhóm hộ điều tra: Nhóm hộ thoát nghèo có quy mô nhân khẩu bình quân 5,46 người/hộ, tuổi chủ hộ bình quân 37,9 tuổi; 100% chủ hộ là nam; 30% có nhà ở kiên cố và 70% nhà bán kiên cố. Nhóm hộ nghèo có tuổi chủ hộ bình quân 36 tuổi, 86,67% chủ hộ là nam và 13,33% là nữ; trình độ học vấn bình quân của chủ hộ nghèo đạt lớp 5,63; số lượng gia súc bình quân 20,57 con, gia cầm 5,33 con; 100% nhà ở là bán kiên cố hoặc tạm bợ.
  2. Hệ thống giải pháp: Đề xuất định hướng và 2 nhóm giải pháp (giải pháp chung và giải pháp cụ thể về sản xuất nông - lâm nghiệp, chăn nuôi, tín dụng, khuyến nông, cơ sở hạ tầng, giáo dục - y tế).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược kết quả nghiên cứu về thực trạng khó khăn, tỷ lệ nghèo còn cao (58,73%) và tính chất bấp bênh của giảm nghèo tại Phìn Hồ. Đưa ra các kiến nghị với UBND huyện Nậm Pồ và UBND tỉnh Điện Biên về chính sách hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và đầu tư cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Bức tranh thực trạng nghèo đói tại địa phương: Số liệu giai đoạn 2012 - 2014 phản ánh xã Phìn Hồ có tỷ lệ nghèo biến động phức tạp và thiếu bền vững. Sau khi giảm trong năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 tăng lên 58,73% (tổng số 306 hộ nghèo trên tổng 521 hộ toàn xã). Có sự chênh lệch lớn giữa các bản: bản Đệ Tinh I từng có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 80,65% (năm 2012), Mạy Hốc 72,73%, Chăn Nuôi 71,93%; đến năm 2014, Đệ Tinh II trở thành bản có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất xã với 72,0%.
  • Chỉ số nhân khẩu và sinh kế của nhóm hộ khảo sát:
    • Chủ hộ nghèo có trình độ học vấn thấp (trung bình lớp 5,63), hạn chế trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật.
    • Tỷ lệ hộ nghèo có chủ hộ là nữ chiếm 13,33%, phản ánh khó khăn kép về lao động và kinh tế.
    • Về nhà ở, 100% hộ nghèo và cận nghèo sống trong nhà bán kiên cố hoặc nhà tạm; chỉ nhóm thoát nghèo mới có 30% tỷ lệ nhà kiên cố.
  • Xác định các nguyên nhân cốt lõi gây nghèo:
    • Điều kiện tự nhiên và rủi ro sinh học: Địa hình dốc, chia cắt mạnh, thiếu nước canh tác trong mùa khô (mỗi năm chỉ sản xuất được 1 vụ); thường xuyên chịu thiên tai (lũ quét năm 2014) và dịch bệnh bùng phát trên đàn gia súc, gia cầm.
    • Tư liệu sản xuất và tài chính: Thiếu vốn đầu tư thâm canh; hạn mức vay vốn tín dụng chính sách còn thấp và người dân thiếu kỹ năng quản lý, sử dụng đồng vốn hiệu quả.
    • Tập quán và dân trí: Canh tác lúa nương chiếm tỷ trọng lớn (573 ha so với 70 ha lúa nước), phương thức chăn thả rông gia súc chưa bảo đảm an toàn dịch bệnh và phòng chống đói rét; còn tồn tại tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước.
    • Hạ tầng kỹ thuật: 3/7 bản (Phìn Hồ, Đề Pua, Mạy Hốc) chưa có điện lưới quốc gia; đường giao thông ngõ bản và đường nội đồng hoàn toàn chưa được kiên cố hóa (0%).
Chỉ tiêu khảo sát Đơn vị tính Nhóm hộ thoát nghèo Nhóm hộ cận nghèo Nhóm hộ nghèo
Số nhân khẩu trung bình Người/hộ 5,46 — —
Tuổi trung bình của chủ hộ Tuổi 37,90 — 36,00
Tỷ lệ chủ hộ là Nam % 100,00 100,00 86,67
Tỷ lệ chủ hộ là Nữ % 0,00 0,00 13,33
Trình độ học vấn bình quân Lớp — — 5,63
Số lượng gia súc bình quân Con/hộ — — 20,57
Số lượng gia cầm bình quân Con/hộ — — 5,33
Tỷ lệ nhà ở kiên cố % 30,00 0,00 0,00
Tỷ lệ nhà ở bán kiên cố % 70,00 100,00 100,00

Hệ thống giải pháp do tác giả đề xuất

  1. Giải pháp sản xuất nông - lâm nghiệp: Đẩy mạnh chuyển giao giống cây trồng năng suất cao như giống ngô lai LVN10, giống đậu tương DT84; tận dụng tối đa đất nông nghiệp sau vụ chính để gieo trồng cây vụ đông ngắn ngày; quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt 1.052,29 ha rừng hiện có kết hợp nâng cao độ che phủ rừng để giữ nguồn nước mặt.
  2. Giải pháp chăn nuôi: Chuyển đổi dần tập quán thả rông sang làm chuồng trại cách ly khu sinh hoạt; chủ động tiêm phòng vắc-xin định kỳ; thực hiện các biện pháp che chắn chuồng trại và dự trữ thức ăn phòng chống đói rét cho đàn trâu, bò trong mùa đông.
  3. Giải pháp tín dụng và khuyến nông: Tăng cường nguồn vốn vay ưu đãi gắn liền với hướng dẫn kỹ thuật sử dụng vốn; tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông - khuyến lâm theo phương pháp trực quan, "cầm tay chỉ việc", xây dựng các mô hình trình diễn thâm canh lúa, ngô và chăn nuôi lợn nái.
  4. Giải pháp hạ tầng và an sinh xã hội: Đề nghị các cấp đầu tư kéo điện lưới quốc gia cho 3 bản vùng cao; kiên cố hóa hệ thống đường giao thông liên bản và nội đồng; nâng cao chất lượng giáo dục bán trú dân nuôi để duy trì tỷ lệ học sinh đến trường; đẩy mạnh tuyên truyền bài trừ tệ nạn ma túy và giữ vững trật tự an ninh khu vực biên giới.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về cơ cấu hộ nghèo, cận nghèo và điều kiện kinh tế hộ gia đình tại xã Phìn Hồ - một địa bàn biên giới mới chia tách của huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2012 - 2014.
  • Đánh giá trực diện tính bấp bênh và hiện tượng tái nghèo do tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động nhân khẩu tại các thôn bản vùng sâu, làm cơ sở thực tế cho các cán bộ khuyến nông và chính quyền cơ sở điều chỉnh kế hoạch can thiệp giảm nghèo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quy mô mẫu điều tra sơ cấp còn giới hạn ($n = 60$ hộ trên tổng số 521 hộ của xã) do điều kiện thời gian thực tập 3 tháng, địa hình hiểm trở và giao thông đi lại khó khăn giữa các bản vùng cao. Phương pháp phân tích chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường định lượng mức độ tác động của từng yếu tố đến thu nhập hộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ 7 bản của xã Phìn Hồ và các xã lân cận trong huyện Nậm Pồ; theo dõi chuỗi số liệu theo thời gian (panel data) để đánh giá tính bền vững của các hộ sau khi thoát nghèo; nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả kinh tế của từng mô hình sinh kế nông - lâm kết hợp thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng biên giới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên và Xã hội học nông thôn.
    • Cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, cán bộ khuyến nông tại các huyện nghèo, xã vùng biên giới miền núi phía Bắc.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình thiết kế công cụ điều tra khảo sát nông thôn (bảng hỏi, chọn mẫu phân tầng kết hợp PRA) tại địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số.
    • Phương pháp phân tích thực trạng kinh tế - xã hội địa phương kết hợp giữa số liệu hành chính thứ cấp và dữ liệu vi mô cấp hộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng chuẩn nghèo nào để phân loại hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu?
Khóa luận căn cứ theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống; hộ cận nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng (đến 520.000 đồng/người/tháng).

2. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Phìn Hồ năm 2014 là bao nhiêu và có xu hướng biến động như thế nào so với các năm trước?
Năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo của xã Phìn Hồ là 58,73% (306 hộ nghèo trên tổng số 521 hộ). Tỷ lệ này giảm từ 63,0% năm 2012 xuống mức thấp hơn vào năm 2013, nhưng đến năm 2014 lại tăng nhẹ 0,82% so với năm 2013 do thiên tai lũ quét, dịch bệnh gia súc và tình trạng tách hộ mới thiếu tư liệu sản xuất.

3. Mẫu khảo sát hộ gia đình được tác giả phân bổ tại những bản nào và với số lượng bao nhiêu?
Tác giả thực hiện khảo sát ngẫu nhiên 60 hộ gia đình tại 4 bản đại diện của xã: Phìn Hồ (15 hộ), Đề Pua (15 hộ), Đệ Tinh II (15 hộ) và Chăn Nuôi (15 hộ). Cơ cấu mẫu gồm 30 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo và 10 hộ thoát nghèo.

4. Khảo sát thực tế cho thấy trình độ học vấn của các chủ hộ nghèo tại Phìn Hồ đạt mức nào?
Kết quả điều tra 60 hộ cho thấy trình độ học vấn trung bình của chủ hộ thuộc nhóm hộ nghèo chỉ đạt lớp 5,63. Trình độ học vấn thấp là một trong những rào cản chính hạn chế khả năng tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.

5. Thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông và điện lưới tại xã Phìn Hồ ghi nhận những hạn chế cụ thể gì?
Tính đến năm 2014, toàn xã có 18/27,5 km đường liên xã và 8/22 km đường liên bản được cứng hóa, trong khi đường ngõ bản (8,9 km) và đường nội đồng (13,4 km) hoàn toàn chưa được cứng hóa (0%). Toàn xã có 3/7 bản (Phìn Hồ, Đề Pua, Mạy Hốc) chưa có điện lưới quốc gia và tỷ lệ hộ dùng điện toàn xã chỉ đạt 43%.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vàng A Chìa đã phản ánh chân thực, toàn diện bức tranh nghèo đói và điều kiện sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số tại xã vùng cao biên giới Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2012 - 2014. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương vẫn ở mức rất cao (58,73% năm 2014) và quá trình giảm nghèo thiếu tính bền vững do rào cản về địa hình, thiên tai, dịch bệnh, tập quán canh tác lạc hậu và thiếu thốn cơ sở hạ tầng. Hệ thống giải pháp khuyến nông, phát triển chăn nuôi có chuồng trại, hỗ trợ tín dụng gắn với hướng dẫn kỹ thuật và hoàn thiện hạ tầng thiết yếu do tác giả đề xuất mang tính khả thi cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản trị phát triển nông thôn tại địa phương.