MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xã hội. Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển kinh tế xã hội. Ngay cả những nước phát triển cao cũng có tình trạng nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo ngày càng trở nên cách biệt.
Sau đ i mới cơ chế quản lý 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đ i sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư. Vì vậy, một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đ i, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo.
Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển. Vì vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -xã hội. Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có gần 70% dân số sống ở nông thôn sống bằng nghề nông nghiệp, tỉ lệ đói nghèo còn cao nhưng phân bố không đều giữa các vùng, miền; nhưng bất kì nơi nào từ thành phố đến nông thôn, đồng bằng đến miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn tồn tại các hộ nghèo, người nghèo, xã nghèo. Chính vì vậy trong quá trình xây dựng và đ i mới Đảng n 2 và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu xóa đói giảm nghèo lên hàng đầu, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người nghèo n định thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống và tạo mọi điều kiện để đáp ứng đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của người nghèo, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, phát triển sản xuất và tự vươn lên thoát nghèo nhằm hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Điện Biên là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên là một xã vùng cao biên giới giáp với nước bạn lào, dân số sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điều kiện sản xuất khó khăn nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao nên công tác xóa đói giảm nghèo tại xã luôn là một vấn đề cấp thiết và nan giải. Từ những khó khăn và nhu cầu bức thiết của người dân, nhằm tăng cường công tác xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn nên tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm giảm nghèo cho người dân tại xã Phìn Hồ - huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên”.
Đi vào nghiên cứu thực trạng tại xã Phìn Hồ - huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên thuộc khu vực miền núi phía Bắc trong những năm gần đây như một ví dụ điển hình cho nghèo ở miền núi nói chung, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của chính sách XĐGN cho vùng, miền núi của Nhà Nước, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng của chính sách có ý nghĩa thiết thực này. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giảm nghèo tại xã Phìn Hồ - huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước đưa xã thoát nghèo bền vững n 3 1. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tình trạng nghèo tại xã Phìn Hồ - huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên.
- Nghiên cứu những nguyên nhân và nhân tố chính dẫn đến nghèo ở xã Phìn Hồ. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo cho xã Phìn Hồ trong những năm tiếp theo. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế, giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích x lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự t ng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn.
Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Đề tài là nguồn tài liệu b xung cho kho thư viện phục vụ cho công tác nghiên cứu học tập của các bạn sinh viên khóa sau. - Ý nghĩa trong thực tiễn Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu hàng đầu của Đảng và nhà nước nói chung cũng như của toàn thể nhân dân xã Phìn Hồ nói riêng. Nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng nghèo tại địa phương, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến nghèo, hiệu quả của các chính sách, chương trình n 4 xóa đói giảm nghèo và tác động của những chính sách này đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương.
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và các ban ngành đoàn thể của xã đưa ra những biện pháp giảm nghèo và triển khai một cách hiệu quả hơn. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số quan niệm về nghèo Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đ i tùy theo địa phương và theo thời gian.
T chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo Khi thu nhập hàng năm ít hơn một n a mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.[10] Tại hội nghị về chống nghèo đói do uỷ ban kinh tế xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) t chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong Khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận". Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đ i theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội t chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại".[8] n 6 Nghèo và Đói thực chất là hai vấn đề khác nhau: - Nghèo: Là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có cách điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Mức tối thiểu được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các nhu cầu khác như: văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp… Chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường và dưới đó là đói khổ. *) Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn t ng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta". Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn t ng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho Khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. [10] *) Nghèo tương đối Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân.
Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. n 7 Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn.