Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số quan niệm về nghèo Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập.
Theo đó một người là nghèo Khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.[19] Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”. Bên cạnh thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hoá - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là thách thức nghiêm trọng.[21] *) Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là tổng giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối.
Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta". Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 n 5 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp.
[19] *) Nghèo tương đối Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. Các khía cạnh của đói nghèo a) Về thu nhập Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ. Họ có mức thu nhập thấp.
Điều này do tính chất công việc của họ đem lại. Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao. Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết ( chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán,. Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những người nghèo.
Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản tài chính, tài sản xã hội. b) Y tế - giáo dục Những người nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao như ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khỏe không được tốt do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc. Người nghèo thường sống ở những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn họ không được sử dụng n 6 nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làm giảm đáng kể sức khỏe của họ. Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng thất vọng.
Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn. Tỷ lệ thất học, mù chữ ở hộ nghèo, đói cao. Một phụ nữ đã nói: "Các con tôi đã sẵn sàng tới trường vào tháng 9, nhưng tôi không biết làm thế nào để có thể cho cả ba đứa tới trường". Tóm lại y tế giáo dục là vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ cũng đã hiểu rõ tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân họ cũng như tương lai của họ và gia đình nhưng do thu nhập thấp, không đủ trang trải, học phí, viện phí, họ đành phải để con cái thôi học, người bệnh không được khám và chữa chạy đúng mức, kịp thời.
Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe của họ, cũng như hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau. c) Nguy cơ dễ bị tổn thương Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với sự khốn cùng về vật chất và con người. Nguy cơ dễ tổn thương là những rủi ro mà người nghèo phải đối mặt như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học,. Nói cách khác, đó chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thương, tạo nên một tâm lí chung của người nghèo là sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh những vấn đề mang tính rủi ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví dụ đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng phương thức sản xuất mới,.) chính điều này đã làm họ sống tách biệt với xã hội, bị cô lập dần với guồng quay của thị trường và do vậy cuộc sống của họ ngày càng trở nên bần cùng hơn.
d) Không có tiếng nói và quyền lực Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã hội do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ. Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ. Người phụ nữ không có quyền quyết định việc gì và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng của họ. Nguyên nhân của đói nghèo ở Việt Nam Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo nhưng tôi xin đưa ra một số nhóm những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng đói nghèo: 1.
Nguồn lực hạn chế Người nghèo thường thiếu nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn nghèo đói. Người nghèo có nguy cơ tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của hộ. Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng thiếu đất sản xuất có xu hướng tăng lên.
Thiếu đất ảnh hưởng tới việc đảm bảo an ninh lương thực của người nghèo cũng như việc sản xuất, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi để có hiệu quả kinh tế cao hơn. Phần lớn họ sản xuất tự cung tự cấp ít có sản phẩm dư thừa để đem lại thu nhập vì khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, vật tư còn rất nhiều hạn chế làm cho giá thành sản phẩm đầu đầu ra cao hơn so với thị trường và thu nhập rất thấp. Bên cạnh đó người nghèo thiếu khả năng tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng. Chính điều này làm cho khả năng cải tiến kĩ thuật, đổi mới sản xuất không được thực hiện, thêm vào một mặt họ không có tài sản giá trị để thế chấp, mặt khác họ không xây dựng được kế hoạch sử dụng hợp lý ngồn vốn, sử dụng sai mục đích không mang lại hiệu quả nên khó tiếp cận được với nguồn vốn càng làm họ nghèo hơn.
Trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm và không ổn định Người nghèo là người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. Thu nhập của họ chỉ đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng mà không có khả năng học lên để nâng cao trình độ. Sự kém hiểu biết cũng ảnh hưởng tới các quyết định liên quan đến sản xuất, gia đình, sinh đẻ, nuôi dạy con cái.ảnh hưởng đến hiện tại và thế hệ tương lai. Trình độ học vấn thấp cũng ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm ở những khu vực khác, các ngành trong lĩnh vực phi nông nghiệp mang lại thu nhập ổn định hơn.
Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp Người nghèo, các đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng đặc biệt thường n 8 không có khả năng tự giải quyết những vấn đề vướng mắc liên quan đến luật pháp. Nhiều văn bản pháp luật, quy chế thực hiện phức tạp nên họ khó nắm bắt. Mạng lưới các dịch vụ liên quan đến luật pháp như kiện tụng, luật sư.còn ít, phân bố không đồng đều tập trung chủ yếu ở thành thị, chi phí dịch vụ pháp lý cao. Các nguyên nhân về nhân khẩu học Quy mô gia đình là ”mẫu số” quan trọng ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các gia đình.
Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh của các gia đình nghèo đói còn cao, quy mô gia đình lớn làm tỷ lệ người ăn theo cao. Nguy cơ dễ bị tổn thương do thiên tai và các rủi ro khác Các hộ nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những bất thường xảy ra bởi các yếu tố tự nhiên liên quan đến quá trình sản xuất, mưu sinh của họ.