phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề án gồm 03 phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án Phần 2: Nội dung của đề án Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị 5 PHẦN 1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cán bộ và cán bộ xã Theo Khoản 1 - Điều 4 của Luật số 22/2008/QH12 về Cán bộ, công chức, quy định như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2008).
Một vấn đề cần lưu ý về đội ngũ cán bộ mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc đó là cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn. Theo khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội (Quốc hội, 2008). Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm có tính chất nền tảng xuyên suốt: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; Cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể. Có vốn thì mới làm ra lãi.
Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn; hoặc Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được.
Như vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ là vô cùng quan trọng trong toàn bộ sự vận hành của một xã hội (Vũ Tiến Dũng và Nguyễn Thị Lương Thiện, 2023). Khái niệm về công chức và công chức xã Theo Khoản 2 - Điều 4 của Luật số 22/2008/QH12 về Cán bộ, công chức, quy định như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị 6 thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Quốc hội, 2008). Theo Điều 2 của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP về Quy định những người là công chức, quy định như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này (Quốc hội, 2010). Theo Khoản 1 - Điều 1 của Luật số 52/2019/QH14 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức, quy định như sau: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2019).
* Theo Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, công chức xã được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khoản 2, Điều 5 của Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Chỉ huy trưởng 7 Ban chỉ huy Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
Về mặt số lượng: Tại Khoản 1, Điều 6 của Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được tính theo loại đơn vị hành chính cấp xã: Đối với phường: Loại I là 23 người, loại II là 21 người, loại III là 19 người; Đối với xã, thị trấn: Loại I là 22 người, loại II là 20 người, loại III là 18 người (bao gồm cả người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động được bầu giữ chức vụ cán bộ cấp xã và cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã). Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực: * Khái niệm nguồn nhân lực: Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm về nguồn nhân lực đã được các cá nhân và tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp cận và đưa ra, cụ thể: Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực được coi là nguồn vốn (vốn người) để phân biệt với các nguồn vốn khác như tài nguyên thiên nhiên, công nghệ, tài chính. Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người với thể lực, trí lực của mỗi cá nhân (TS.
Hoàng Thị Thắm (2021), Đại học Thương Mại. Theo Liên Hợp quốc cũng cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Một số các nhà nghiên cứu khác cũng đồng quan điểm tiếp cận trên khi cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nguồn nhân lực trong bộ máy hành hành chính Việt Nam bao gồm toàn bộ tiềm năng lao động của các con người (gọi là CBCC) được Chính phủ sử dụng để thực thi chức năng hành pháp của Nhà nước.
Nguồn nhân lực đóng vai trò động lực phát triển của quốc gia. 8 * Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức Liên hiệp quốc cho rằng, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực. Tác giả Leonard Nadler cũng thống nhất quan niệm: phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm, đó là quá trình làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc (TS. Hoàng Thị Thắm (2021), Đại học Thương Mại.
Một số quan niệm khác cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là tổng thể cách thức, phương pháp, chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về nhiều mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả cao nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế xã hội. Hoàng Thị Thắm (2021), Đại học Thương Mại. Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất về phát triển nguồn nhân lực là: Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm tạo nên nguồn nhân lực phát triển về số lượng, chất lượng, có cơ cấu nhân lực hợp lý đáp ứng nhu cầu phát triển của cơ quan, đơn vị đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.
Nội dung phát triển nguồn nhân lực cán bộ - công chức cấp xã 1. Đảm bảo về số lượng và hợp lý về cơ cấu cán bộ công chức cấp xã Đặc trưng cơ bản đầu tiên của nguồn nhân lực là số lượng nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực phải đảm bảo đủ theo chiến lược phát triển của chính quyền cấp xã trong từng thời kỳ. Việc xây dựng kế hoạch CBCC là rất quan trọng, cần được thực hiện thường xuyên theo lộ trình định hướng cụ thể, khách quan, sát với từng đơn vị, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với yêu cầu thực tế.