CHƯƠNG 1 LƠI ÍCH KINH T Ế VÀ VAI TRÒ C L A VIỆC K Ế T HỢP HÀI HOÀ LƠI ÍCH KINH T Ế GIỮA CÁC GIAI CẤP. TẦNG LỚP XÃ H Ộ I ở N Ư Ớ C TA H IỆ N NAY 1.1 Quan niệm về lợi ích kinh tế và vấn đề kết hợp hài hoà lợi ích kinh tẽ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội 1.1 Q uan niệm vê lọi ích kinh tế * Lọi ích : Cũng như vô số các vấn đc khác “ lợi ích” đã có một lịch sử nghiên cứu rất láu dài với nhiều quan điểm của các nhà triết học. nhà lý luận ở nhữns mức độ nhận thức khác nhau. Chính vì điều đó nên trona giới nghiên cứu về vấn để lợi ích hiện nay đã có người nhận xét rầne: “ Thực ra.
nhu cầu và lợi ích chẳng phải là điều gì mới mẻ trong đời sống con nsười. Nó đã có từ khi có xã hối loài người. Triết học và khoa học chảng qua chỉ là gọi tên nó lên mà thôi. Dĩ nhiên, do cách tiếp cận và do các áp lực xã hội mà mỗi thời có thể quan tâm đến nó hay không quan tâm đến nó, có thể gọi tên nó là thế này hay thế khác, có thê’ gọi tôn nó là thế này hay thế khác, có thể quan tâm đến lơi ích cụ the này hay lợi ích cụ thể kia.
Nhưng nó - nhu cầu và lợi ích luôn luôn gắn chặt với mỗi con người và xã hội loài người” [6-tr. chủ nghĩa duy vật tầm thườns quan niệm lợi ích ]à cái gì đó trực tiếp có lợi và đem lại ng ay sự thoả m ãn nào đó trong đời SỐI1S sinh hoạt hàns. ngày của con nsười. Trái ngược với quan điểm của chù nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa duy tâm xem lợi ích như là một hiện memo đặc biệt của tâm lý, khống gắn lợi ích với quan hệ kinh tế.
Chu nghĩa khổ hạnh thì lại khuyên con người ta nên chối bỏ lợi ích ở trần thế để đi tìm lợi ích hư vô nơi thượng đế. Còn đối với chủ nehìa vị ký. lại bác bỏ tâì ca nhữns. "ì khôn" trực tiếp liên quan đến lợi ích của han thán, khuyên bao mọi người hãy tự lo cho mình, còn lo cho tất cả thì đã có thượntỉ dế.
Cũng theo quan điém cua chu nghĩa vị ky. ' ‘tất ca 7 những gì tồn tại cho họ và vì họ thì đều là lợi ích, đều là chán l ý ". Còn tất cá những gì “ không đem lại lợi ích trực tiếp cho họ đều là hư vô”. Những người đầu tiên có công trons việc phân tích, luân siải đời sông xã hội bằng lợi ích thuộc về các nhà duy vât Pháp thế kỷ X V I I I.
sổm: Hen-vê-ti- nýt, Hôn-Bách, Điđrô. Những luận điểm giá trị nhất của các nhà duy vật Pháp Thời kỳ này là họ đã đối lập lợi ích của con người với nhữns điều kiện định trước của thần thánh, cũng như với những hoàn cảnh ngẫu nhiên của quá trình lịch sử. Lợi ích là nền tảng, cơ sở thực tiễn của đạo đức. chính trị.
của chế độ xã hội. Tuy vậy, các nhà duy vật Pháp lại cườim điệu vai trò của lợi ích theo hướnc: “ Nếu như thế eiới-vật lý phục tùng quy luật vận động, thì ihế giới tinh thần cũng phục Ìùne quy luật của lợi ích. Trên trái đất, lợi ích là người có phép thần thông vạn nãng làm biến đổi hình dáng của mọi sự vật theo ý kiến của tất cả mọi sinh linh”. Rất tiếc là các ỏng đã không vượt ra khỏi được khuôn khổ duy tâm về đời sống xã hội, xem lợi ích xã hội là tổng số giản đơn các lợi ích cá nhân, còn bán ihân lợi ích cá nhân thì ỉại suy ra từ bản tính cảm tính trim tượng của con người” [ 15-ir.
Hêghen là nsười có công trong việc phát triển lý luận về lợi ích. Ono đã phê phán quan điểm đem quy lợi ích về cảm tính của con người. Hêghen cho rằng: “ Nếu xét kỹ lịch sử, chúng ta thấy rõ ràng hành động của con người bắt đầu từ nhu cầu của họ. từ sự ham muốn của họ.
từ lợi ích của họ. và chỉ những cái đó mới đóng vai trò chủ yếu” [21-tr. Ồng còn cho rằns. con người từ việc “ tìm mọi cách thoả mãn lợi ích của mình, nhưng nhờ vậy mà còn thực hiện được cái xa hơn, cái ẩn dấu trong các lợi ích nhưng không được họ nhận thức và khôns nằm trons ý định của h ọ " [ 2 2 - t r.
Tuy nhiên, do xuất phát từ lập trườna duy tâm nên những quan điểm của Hêshcn về lợi ích chỉ tồn tại irons tư duy c h ứ k h ô n s phai tron í! thực tiễn. Phoi-ơ-bắc nhà duy vật nổi tiếne thời kỳ trước Mác. nsười liêu biếu nhất của triết học cổ diên Đức. vấn đổ lợi ích được Ô112 đổ cập một cách chun” 8 chung, trừu tượng.
Theo Phoi-ơ-bắc, lợi ích có “ bản tí nh" khõno thay đổi có thể dung hoà được với mọi thời điểm và hoàn cảnh, mọi giai cấp. Các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởns-phê phán, với mong muốn kết hơp được lợi ích của cá nhân con người với lợi ích của cả xã hội đã cố gắns tìm kiếm những cách thức để thực hiện. Tuy nhiên, vì trôns chờ vào sự “ vận độ ns '\ “ thuyết phục” con người để thực hiện mục tiêu đó nén những mong muốn tốt đẹp đó của họ chỉ là ảo tưởng. Trong kho tàng lý luận của mình, các nhà sáng lập chủ nshĩa Mác tuy khôrm đổ cập vấn đồ lợi ích thành một phán riêng rẽ.
qua hệ thốno kinh điển của chủ nghĩa Má c đã cho thấy rõ nhữne chi dẫn. luận siải sâu sác vổ vấn đề lợi ích và vai trò quan trọns của nó đối với sự phát triển của xã hội dựa trên sự k ế thừa những giá trị tinh hoa của các nhà triết học trước đó về vân đề lợi ích. Quan niệm về vấn lợi ích của chủ nghĩa Mác đã đặt nền móng cho các nhà lý luận mác-xít sau này có điều kiện đi sâu nghicn cứu vấn đé này. Ớ Việt Nam vào cuối những năm 70 đầu 80 cua thế ký trước, đổ tài lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế đã được các nhà khoa học thuộc giới nghiên cứu triết học và khoa học xã hội nhân văn bàn luận rất sôi nổi.
Mặc dù còn có nhiều ý kiến chưa được thống nhất, sons về cơ bản nhữne nshiên cứu xung quanh đề lài lợi ích đã đạt được những kết quả quan trọng. Vậy thực chất “ lợi ích” là gì? Nó được hình thành như thế nào ? Vì sao người ta lại phải mất nhiều thời eian và công sức để nghiên cứu vấn đề lợi ích đến như vậy? Lợi ích. theo liếne La tinh là Interest , tức: có ý nghĩa quan trong, nguyên nhân hiện thực cua các hành đôna xã hội. cúc sự kiên, thành tựu ẩn dấu đăng sau nhĩrne sự thúc đáy trực tiếp độnc cơ.
cua các cá nhãn, tập đoàn xã hội. íiiai cấp tham aia vào những hành động đó” [23-U'. Hiện nay có nhiều quan điếm khác nhau vé lơi ích. son í! hầu hét các quan điếm đéu g thống nhất rằng lợi ích được hình thành từ tìỉỉii cáu rà các hoạt đổnq nhằm ỉlìòa mãn nhu cầu của con người trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Cuộc sống của con người bao giờ cũng có nhu cầu và đòi hỏi thoả mãn nhu cầu. Dĩ nhiên không phải nhu cầu nào cũng làm cho con người theo đuổi, cũng trở thành động cơ hành động. Có nhu cầu chưa thể có được sự chín muồi để thực hiện, có những nhu cầu mang tính hiện thực. Có những nhu cầu của con người đã xuất hiện hàng ngàn năm trước kia, nhưne khi ấy còn là ảo tưởng, mãi đến thời kỳ văn minh khi có đủ các điều kiện mới thực hiện được.
Trên phạm vi thế giới, có những nhu cầu còn rất xa lạ với dán tộc này sons lại thực hiện được ở những dân tộc khác. Nhu cầu một khi có điều kiện để thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân của con người, thôi thúc con neười nỗ lực hành độna đê đạt lấy cho bằnẹ được. Vì vậy, việc tìm hiểu nhu cầu của con ngưò'i và các mối quan hệ xã hội trong đó có hoạt động thoả mãn nhu cầu là cơ sỏ' khách quan để xem xét lợi ích. Nhu cầu là trạng thái đòi hỏi bên trong của chủ thể muốn có những điều kiện nhất định để tổn tại và phát triển.
Nói đến nhu cầu là nói đốn mối quan hệ nhất định trong hệ thống các quan hệ của con người với môi trường xung quanh. “ Bản thân con người là một hệ thống sống. Nó chỉ tổn tại trong mối quan hê hữu cơ với môi trườna xung quanh - cái thế giới luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thốns - đổ chính là mối quan hệ hữu cơ nội tại của bộ phận (thành tố) với toàn bộ hệ thống thế giới. Đây cũng chính là mối quan hê có tính chất quyết định sự tổn tai và phát triển của con người’ ' [28-tr.
Nhu cầu của con người vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Với tư cách là những mona muốn, đòi hỏi của chủ thế, nhu cầu mang tính chủ quan. Tính chủ quan của nhu cầu đươc thế hiện ỏ' chỗ: trong cùng một hoàn cánh, đi cu kiện khách quan, những chủ thế khác nhau có những nhu cẩu khác nhau, điều đó phu thuộc vào trinh độ hiểu biết, giá trị vãn hoá. lối sổng của chủ thể quv định.
Tuy nhiên, xót cho cùns. trình đỏ hiêu biết, nhấn cách, lối sổnti do hoàn canh khách quan cua xã hội quv định. Với tư cách là cái 10 nảy sinh trong mối quan hệ với môi trườns bén ngoài, nhu cầu mans tính khách quan. Tính khách quan của nhu cầu thể hiện ỏ' chỗ: Môi trường bên nsoài quy định sự hình thành nhu cầu và mức độ thoả mãn nhu cầu cùns với nhữna phương tiện, phương thức thoả mãn nhu cầu cũng bị quy định bời môi trường bên ngoài, đặc biệt là điều kiện kinh tế - xã hội.
“ Nhu cầu nảy sinh do kết quả tác động qua lại của hoàn cảnh bên ngoài với trạng thái riêng của từng chu thể. trong đó hoàn cảnh bên ngoài đóng vai trò quan trọn2 và trong phần lớn các trường hợp là quyết định” [8-tr. Nhu cầu cổ vai trò quan trọne, quyêì định đối với sản xuất. Khi xem xéi tầm quan trọns của nhu cầu đối với phát triển sản xuất.