Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Xã hội học của tác giả Trần Xuân Bình có tiêu đề Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay (Nghiên cứu trường hợp huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế), được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của Đặng Cảnh Khanh và Phạm Đình Huỳnh, chuyên ngành Xã hội học, mã số 5.51.
Về tính cấp thiết, đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế) là hệ sinh thái nhân văn vùng thủy vực nước lợ tiêu biểu tại châu Á với diện tích mặt nước trên 22.000 ha, chiều dài 68 km, trải rộng qua 5 huyện ven biển gồm Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc. Đây là địa bàn sinh sống của khoảng 35 vạn dân (chiếm gần 35% dân số toàn tỉnh) thuộc 236 làng, 41 xã. Trước sức ép gia tăng dân số và nhu cầu sinh kế, hoạt động khai thác quá mức nguồn lợi tự nhiên cùng sự xuất hiện của các ngư cụ mang tính hủy diệt (đặc biệt nghề te quệu kết hợp xung điện từ năm 1995, cùng chất nổ, chất độc) đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản. Để giải quyết áp lực này, nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) xuất hiện từ đầu thập niên 1990 và bùng nổ mạnh mẽ vào năm 1997 tại xã Phú Tân (sau là thị trấn Thuận An), lan sang xã Phú An, Phú Xuân (khu vực đầm Sam - Chuồn, huyện Phú Vang) rồi toàn vùng đầm phá. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự phát này tạo ra những biến đổi sâu sắc về cơ cấu xã hội, quan hệ sở hữu mặt nước, phân tầng xã hội và xung đột giữa các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm ngư dân nghèo và cư dân thủy diện (vạn đò).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh tự nhiên sinh học hoặc giải pháp kỹ thuật, quy hoạch; chưa có công trình nào tiếp cận liên ngành xã hội học để đánh giá có hệ thống tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế NTTS đến quá trình giảm đói nghèo và biến đổi xã hội của các nhóm dân cư đầm phá.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục đích: Nhận dạng thực trạng tác động của phát triển nghề NTTS đến việc giảm đói nghèo trong cộng đồng dân cư vùng đầm phá Thừa Thiên Huế; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và khuyến nghị xây dựng mô hình phát triển kinh tế bền vững ở vùng đầm phá Tam Giang nhằm giảm đói nghèo.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
- Xác lập cơ sở lý luận và phương pháp luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu – “Tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo”;
- Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm xã hội để nhận diện khách quan về “đối tượng nghiên cứu”;
- Xác định nguyên nhân và các yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến “đối tượng nghiên cứu”;
- Xây dựng giải pháp, quy hoạch, kế hoạch hóa mô hình phát triển kinh tế đầm phá theo hướng bền vững.
Câu hỏi nghiên cứu (5 câu hỏi đánh số theo văn bản):
- Phát triển nghề NTTS như thế nào và làm thế nào để có được một sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả, chất lượng cao, bền vững có lợi cho cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với bộ phận người nghèo?
- Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và môi trường, tài nguyên ở đây sẽ như thế nào?
- Vai trò, vị thế, quyền lực xã hội của cá nhân, các nhóm xã hội, các tổ chức và các thiết chế xã hội sẽ như thế nào?
- Các chủ thể đó đang và sẽ làm gì để phát huy vai trò chức năng xã hội của mình trong phát triển địa phương?
- NTTS có thực sự là hướng sinh kế bền vững xóa đói, giảm nghèo ở địa phương?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Phát triển nghề NTTS tác động làm biến đổi kinh tế - xã hội, gia tăng các hoạt động sống và giảm đói nghèo trong các nhóm dân cư vùng đầm phá Tam Giang: mở rộng diện tích, loại hình và thành phần kinh tế tham gia NTTS sẽ giảm đói nghèo; tỷ lệ hộ ngư dân NTTS tăng làm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo; tỷ lệ hợp lý giữa quy mô và phân phối diện tích mặt nước sẽ giảm hộ đói nghèo hoặc ngược lại.
- Phát triển nghề NTTS dẫn đến các vấn đề xã hội nảy sinh: phân tầng xã hội, xung đột xã hội, thay đổi tổ chức đời sống và quan hệ xã hội.
- Nhiều yếu tố ngoài NTTS tác động đến cộng đồng: nhu cầu nâng cao hoạt động sống của cả cộng đồng; các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, tài nguyên môi trường chưa xác định được xu hướng.
- Mô hình phát triển NTTS hiện tại ở đầm phá Tam Giang còn mang yếu tố tự phát, thiếu tính bền vững.
- Những chính sách kinh tế - xã hội về phát triển NTTS còn có điểm chưa sát thực tế, chưa phù hợp với tình hình địa phương.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong cộng đồng dân cư ở vùng đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế.
- Khách thể nghiên cứu: Các hộ gia đình, các nhóm dân cư sinh sống và hoạt động có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn lợi đầm phá Tam Giang; một số cơ quan chức năng, cán bộ quản lý chính quyền, đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội tại địa bàn.
- Phạm vi không gian: Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế; trọng tâm sinh thái là vùng đầm Sam - Chuồn (vùng giữa đầm phá), nơi bùng phát nghề NTTS mạnh nhất toàn vùng.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa tập trung từ năm 2001 đến 2003; kế thừa số liệu và kết quả nghiên cứu giai đoạn 1995 - 2004; so sánh biến đổi giữa hai mốc thời gian 1997 - 1999 và 2001 - 2003.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án điểm lại các hướng nghiên cứu trước đây ở phạm vi quốc tế, quốc gia và địa phương:
Ở bình diện quốc tế và vĩ mô, tác giả phân tích các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) gồm: Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 2000/2001 - Tấn công đói nghèo (2000); Báo cáo phát triển thế giới năm 2003: Phát triển bền vững trong một thế giới năng động (2003); công trình của Judy L. Baker (2002) về đánh giá tác động của dự án tới đói nghèo; Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: Nghèo (2003); quan niệm của Amartya Sen về năng lực con người và quyền tự do đạt tới cuộc sống mong muốn; cùng tiêu chuẩn đánh giá nghèo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Ở bình diện quốc gia, tác giả tổng thuật các chính sách và ấn phẩm: Quyết định số 80/1998/QĐ-TTg ngày 9/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo (LG. Đức Quyết, 2002); báo cáo Việt Nam tấn công nghèo đói (2000) dựa trên hai cuộc Điều tra mức sống dân cư năm 1993 và 1998 của Tổng cục Thống kê; báo cáo Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xóa Đói Giảm Nghèo của Việt Nam 2002; chuyên khảo Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam của nhóm tác giả Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình (2001); công trình Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (thuộc đề tài cấp nhà nước KHXH.04-05) của Hà Quế Lâm; cùng các nghiên cứu về ngưỡng nghèo và thiếu đói của Đỗ Thị Bình và cộng sự (1996), Nguyễn Văn Thiều (1994).
Về nghiên cứu tại đầm phá Tam Giang và tỉnh Thừa Thiên Huế:
- Tài liệu lịch sử và tự nhiên: Tác phẩm Ô châu cận lục của Dương Văn An (thế kỷ XV) mô tả sự hình thành và đời sống nhân văn đầm phá; công trình khảo sát tự nhiên sinh học vùng Tam Giang - Cầu Hai của Krempf (1931).
- Các chương trình và đề tài khoa học: Đề tài Nghiên cứu định cư dân thủy diện Đầm phá Tam Giang do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế và Đại học Sư phạm Huế chủ trì (năm 1987 và 1995); Hội thảo khoa học về Đầm phá Thừa Thiên Huế do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Phân viện Hải dương học Hải Phòng và Đại học Thủy Lợi tổ chức (tháng 11/1994); Báo cáo kết quả nghiên cứu giai đoạn I và II (1995, 1997, 2001) của dự án Quản lý nguồn lợi sinh học phá Tam Giang do IDRC Canada tài trợ, phối hợp Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Khoa học Huế và Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế (tác giả tham gia với tư cách chuyên gia đánh giá tác động kinh tế - xã hội).
- Các nghiên cứu chuyên ngành liên quan: Nguyễn Quang Trung Tiến (1995) với Ngư nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ XX; Nguyễn Duy Thiệu (2002) với Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam; Nguyễn Quang Vinh Bình (1996) với Quản lý nguồn lợi thủy sản hệ đầm phá Tam Giang; Hà Xuân Thông (2000) với Cơ sở lý luận chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong ngành thủy sản; Đỗ Hoài Nam (2003) về vùng ven biển; và công trình của chính tác giả Trần Xuân Bình (1999) trong luận văn thạc sĩ Ảnh hưởng của bùng nổ NTTS đến cuộc sống của người dân ở Phú Tân, Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn công trình trước đây tập trung vào khía cạnh sinh thái tự nhiên, kỹ thuật khai thác, hoặc khảo sát định cư thuần túy. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc đánh giá có hệ thống dưới góc độ xã hội học về mối liên hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thủy sản (từ khai thác tự nhiên sang NTTS) với biến đổi cấu trúc xã hội, phân tầng giàu nghèo, việc làm và an sinh xã hội tại cộng đồng dân cư đầm phá.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết xã hội học kết hợp ở ba cấp độ:
- Cấp độ tổng quát: Phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước; Lý thuyết hệ thống (xem xét hệ thống Nhân văn - Sinh thái vùng đầm phá trong mối tương tác giữa tự nhiên và xã hội thông qua quá trình kinh tế); Lý thuyết biến đổi xã hội (theo quan niệm của L. Therese Baker năm 1998 và Emile Durkheim, phân tích biến đổi nội xã hội và thay đổi xã hội do tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế).
- Cấp độ trung gian (cấu trúc): Tiếp cận cộng đồng (Ferdinand Tönnies với quan niệm về xã hội cộng đồng tính - Gemeinschaft và xã hội hiệp hội tính - Gesellschaft; Joseph Fichter với 4 yếu tố cấu thành cộng đồng; Emile Durkheim với khái niệm đoàn kết cơ học và đoàn kết hữu cơ); Lý thuyết cấu trúc - chức năng (Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Robert K. Merton, Peter Blau, Hansjürgen Daheim) phân tích sự biến đổi vị thế, vai trò và chức năng của các thiết chế xã hội khi chuyển đổi ngành nghề.
- Cấp độ trực tiếp (hành vi): Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (James S. Coleman, Friedman, Hechter, kết hợp khái niệm chi phí cơ hội trong kinh tế vi mô để giải thích hành vi thích ứng, lựa chọn nghề nghiệp của hộ gia đình); Lý thuyết phân tầng xã hội (quan điểm của Karl Marx về giai cấp; Max Weber với nguyên tắc ba chiều gồm địa vị kinh tế/tài sản, địa vị chính trị/quyền lực, địa vị xã hội/uy tín; Trịnh Duy Luân năm 2000); Lý thuyết xung đột xã hội về đói nghèo (phân tích mâu thuẫn trong chiếm hữu mặt nước và tranh chấp ngư trường).
Thao tác hóa khái niệm và khung biến số:
Khái niệm đói nghèo được thao tác hóa theo nghĩa rộng thành ba trạng thái:
- Nghèo thu nhập (Income Poverty): đo lường qua mức sống, thu nhập, chi tiêu, điều kiện nhà ở, trang thiết bị sản xuất và tiện nghi sinh hoạt.
- Nghèo tri thức (Knowledge Poverty): đo lường qua thụ hưởng giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe và đời sống văn hóa tinh thần.
- Nghèo nhân văn (Human Poverty): đo lường qua cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm, an ninh an toàn, mức độ tiếp cận tài nguyên chung và các nguồn lực xã hội.
Hệ biến số nghiên cứu gồm: Biến độc lập (mở rộng quy mô, các loại hình ao nuôi, các thành phần xã hội tham gia NTTS); Biến trung gian (tiếp cận tài nguyên, xung đột xã hội, chuyển đổi nghề, tạo việc làm, ô nhiễm môi trường); Biến phụ thuộc (đời sống vật chất, đời sống phi vật chất, mức độ tiếp cận nguồn lực xã hội của các nhóm hộ và nghề nghiệp); Biến can thiệp vĩ mô (điều kiện tự nhiên tài nguyên, chính sách phát triển, CNH-HĐH, đô thị hóa, thương mại hóa).
Phương pháp nghiên cứu thực tế và dữ liệu:
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp (kết hợp định lượng và định tính), nghiên cứu có sự tham gia của người dân (PRA) và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBCRM) theo tài liệu của Lê Thị Kim Lan và Trần Xuân Bình (2001).
Bảng tổng hợp quy mô mẫu nghiên cứu thực nghiệm của luận án:
| Phương pháp |
Loại hình mẫu điều tra |
Quy mô thực hiện |
Tỷ lệ và phân bố địa bàn |
| Định lượng (Bảng hỏi, xử lý SPSS 9.0) |
Khảo sát bảng hỏi toàn vùng đầm phá |
429 phiếu |
100% (thực hiện tháng 7/2003 tại vùng đầm Sam - Chuồn và lân cận) |
|
Khảo sát tại huyện Phú Vang |
226 phiếu |
Chiếm 52,7% tổng số phiếu (tại 4 xã, chiếm 50% số xã khảo sát) |
| Định tính (Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) |
Hộ dân cư địa phương |
108 trường hợp |
Chiếm 81,2% (12 trường hợp x 9 làng) |
|
Cán bộ quản lý cấp xã |
18 trường hợp |
Chiếm 13,53% (6 trường hợp x 3 xã) |
|
Cán bộ quản lý cấp huyện |
7 trường hợp |
Chiếm 5,26% (huyện Phú Vang) |
|
Tổng số nghiên cứu trường hợp |
133 trường hợp |
So sánh hai thời điểm 1998 và 2003 |
Nguồn tư liệu thứ cấp kế thừa từ các dự án nghiên cứu của IDRC Canada (1995, 1997, 2001), số liệu thống kê của WB, Tổng cục Thống kê, Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế và kết quả khảo sát luận văn thạc sĩ năm 1999 của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu giảm đói nghèo vùng đầm phá Tam Giang
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ, khung biến số và chuẩn nghèo áp dụng tại Việt Nam theo số liệu của WB và Tổng cục Thống kê.
Bảng 1.1: Ngưỡng nghèo ở Việt Nam trong các năm 1993 và 1998 (nghìn đồng/người/năm):
| Chỉ tiêu ngưỡng nghèo |
Thời điểm tháng 1/1993 |
Thời điểm tháng 1/1998 |
| Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm |
750 |
1.287 |
| Ngưỡng nghèo chung |
1.160 |
1.788 |
| (Nguồn: Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê, 1999; dẫn theo Luận án, tr. 21) |
|
|
Chương 1 phân tích bối cảnh tự nhiên - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế và hệ đầm phá Tam Giang. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 5.000+ km2, đất lâm nghiệp 180.232 ha, đất nông nghiệp 49.107 ha, mặt nước đầm phá 22.100 ha; dân số đầu năm 1999 là 1.050.000 người (Bảng 1.2, 2.1). Vùng đầm phá kéo dài qua 5 huyện với 35 vạn dân tại 236 làng, 41 xã; trong đó có hơn 1 vạn dân thủy diện sống lênh đênh trên thuyền vạn đò, đối mặt với nghèo đói kinh niên (Bảng 2.2).
Về lịch sử hình thành nghề NTTS, văn bản nêu rõ: năm 1977 thành lập Trạm nghiên cứu NTTS; năm 1982 chuyển thành Xí nghiệp NTTS sau thành công trồng rau câu chỉ vàng; tháng 5/1984 thành lập Đội quy hoạch tổng thể NTTS; đầu năm 1985 thành lập Trạm nghiên cứu hải sản (bị bão số 8 năm 1985 phá hủy); giữa năm 1986 chuyên gia Việt kiều Nhật Nguyễn Tiến Dũng phát hiện giống tôm sú non P15; năm 1989 công ty Lobana (liên doanh Úc và Công ty nuôi tôm TP Huế) lập điểm nuôi công nghiệp tại Phú Tân; năm 1990 xuất hiện điểm nuôi bán thâm canh tại Phú Xuân.
Tác giả phân kỳ 3 giai đoạn và loại hình NTTS:
- Giai đoạn 1987 - 1994: Nuôi ao đất cao triều bán thâm canh (kết hợp tôm sú và rau câu), diện tích nuôi của Công ty nuôi tôm TP Huế tại Phú Tân tăng từ 12,8 ha năm 1987 lên 80,6 ha năm 1993; toàn xã Phú Tân có 46 tổ hộ với quy mô ao 1-2 ha.
- Giai đoạn 1994 - 2002: Bùng nổ ao vây lưới (chắn sáo bằng lưới mùng) theo lối quảng canh hỗn hợp (ô nuôi NTTS chỉ chiếm 1/4 đến 1/8 diện tích rào chắn, phần còn lại khai thác tự nhiên; chia thành nuôi trung triều và hạ triều).
- Giai đoạn từ 2002: Phong trào nuôi thâm canh cao triều và nuôi tôm trên cát bằng công nghệ cao tại vùng bãi ngang và ven phá của các doanh nhân, doanh nghiệp ngoài cộng đồng.
Mốc bùng nổ nghề NTTS năm 1997 (Biểu đồ 1.1) đánh dấu quá trình người dân rào lấn tự phát mặt nước chung thành sở hữu riêng.
Chương 2: Thực trạng giảm đói nghèo trong các nhóm dân cư do phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản
Chương 2 trình bày các phát hiện thực nghiệm định lượng và định tính về tác động của NTTS:
- Mở rộng quy mô sản xuất và tăng trưởng kinh tế: Diện tích NTTS toàn tỉnh từ 42 ha năm 1990 tăng lên hơn 1.000 ha năm 1995, đạt 3.667,2 ha năm 2003 và dự kiến 4.941 ha năm 2004 (Biểu đồ 2.1, 2.3); cơ cấu giá trị nghề cá chuyển dịch mạnh mẽ giai đoạn 1996 - 2001 (Biểu đồ 2.2). Hoạt động NTTS làm gia tăng thu nhập hàng năm (Bảng 2.6) và thu nhập bình quân ngày (Bảng 2.7) của các hộ nuôi tôm. Các hộ khá giả cải thiện mức chi tiêu hàng ngày (Bảng 2.8, Biểu đồ 2.4), nâng cấp nhà ở kiên cố (Bảng 2.12), sắm sửa tiện nghi sinh hoạt và trang thiết bị sản xuất hiện đại (khảo sát trường hợp làng Tân Dương - Bảng 2.11).
- Phân tầng xã hội và gia tăng bất bình đẳng: Kết quả xếp dãy kinh tế - xã hội và phân loại giàu nghèo theo thu nhập cho thấy sự nới rộng khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư (Bảng 2.9, Biểu đồ 2.5). Việc mở rộng ao vây lưới (chắn sáo) đã chiếm dụng diện tích mặt nước công cộng, thu hẹp không gian đánh bắt tự nhiên (Bảng 2.4 danh mục nghề khai thác). Nhóm ngư dân nghèo không có vốn làm ao và cư dân thủy diện bị tước đoạt ngư trường truyền thống, rơi vào cảnh bần cùng hóa và tăng nguy cơ tái đói nghèo.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm và an sinh xã hội: Thang giá trị nghề nghiệp thay đổi sâu sắc trước và sau bùng nổ NTTS (Bảng 2.5), kéo theo sự thay đổi cơ cấu chi tiêu trong gia đình giữa năm 1997 và 2002 (Bảng 2.10). Tiếp cận y tế được cải thiện về điều kiện chữa bệnh (Bảng 2.13), nhưng giáo dục gặp nhiều khó khăn khi tỷ lệ trẻ em bỏ học còn cao do điều kiện kinh tế nghèo khó và thiếu phương tiện đến trường (Bảng 2.14, 2.15).
- Thách thức suy thoái môi trường và xung đột xã hội: Mật độ cọc sáo dày đặc cản trở lưu thông trao đổi nước, dư lượng thức ăn công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước đầm phá, gây dịch bệnh tôm triền miên. Tranh chấp diện tích mặt nước dẫn đến các vụ va chạm gay gắt giữa người nuôi và người đánh bắt tự nhiên, làm phức tạp an ninh trật tự và rạn nứt quan hệ gắn kết cộng đồng truyền thống.
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản ở đầm phá Tam Giang theo hướng bền vững giảm đói nghèo
Chương 3 đề xuất 8 nhóm giải pháp dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển hệ sinh thái nhân văn đầm phá:
- Quy hoạch tổng thể hệ thống NTTS: Phân vùng mặt nước khoa học, khơi thông luồng lạch lưu thông nước; thực hiện lộ trình cắt giảm ao chắn sáo tại huyện Phú Vang: năm 2004 giảm 120 ha, năm 2005 giảm 120 ha và đến năm 2010 xóa bỏ hoàn toàn hình thức nuôi chắn sáo.
- Chính sách chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và giải quyết việc làm: Hỗ trợ đào tạo nghề, tạo sinh kế thay thế cho ngư dân khai thác tự nhiên bị mất ngư trường.
- Mở rộng loại hình kinh tế hộ: Khuyến khích mô hình kinh tế hộ liên kết sản xuất, thành lập các tổ hợp tác NTTS để chia sẻ chi phí và hạn chế rủi ro.
- Chính sách về vốn: Triển khai các kênh tín dụng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục vay vốn cho các hộ nghèo và cận nghèo đầu tư sản xuất.
- Chính sách về kỹ thuật: Chuyển giao quy trình nuôi an toàn, kiểm soát nguồn gốc giống tôm sú và tăng cường phòng ngừa dịch bệnh thủy sản.
- Chính sách đào tạo, tuyên truyền giáo dục: Nâng cao dân trí, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường đầm phá và quy chế khai thác tài nguyên.
- Đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội: Tăng cường hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương, giải quyết dứt điểm các tranh chấp và xung đột mặt nước.
- Tiếp cận cộng đồng bằng các dự án phát triển có sự tham gia của người dân: Vận dụng công cụ PRA và mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBCRM) nhằm phát huy quyền làm chủ của người dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên dưới góc độ xã hội học về tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo tại vùng đầm phá Tam Giang.
- Vận dụng và kiểm chứng các lý thuyết xã hội học (lý thuyết hệ thống, cấu trúc chức năng, biến đổi xã hội, lựa chọn hợp lý, phân tầng xã hội và xung đột xã hội) trong phân tích mối tương tác giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến đổi xã hội ở một vùng sinh thái nhân văn ven biển đặc thù.
- Làm rõ tính hai mặt của tăng trưởng kinh tế tự phát: vừa tạo cơ hội nâng cao mức sống cho một bộ phận cư dân, vừa làm sâu sắc thêm phân tầng xã hội, tước đoạt sinh kế của nhóm yếu thế và gây suy thoái môi trường. Kết quả này bổ sung luận cứ khoa học cho lý luận xã hội học về phát triển cộng đồng.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan, chi tiết về thực trạng đời sống kinh tế, mức sống, phân tầng giàu nghèo và các chiều cạnh nghèo đa chiều (thu nhập, tri thức, nhân văn) của các nhóm dân cư vùng đầm phá.
- Cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp các cấp chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Phú Vang xây dựng quy hoạch không gian mặt nước, kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội và điều chỉnh chính sách xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững.
- Giúp cộng đồng ngư dân bản địa nhận diện các nguy cơ sinh kế, từ đó chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất và phòng ngừa rủi ro.
- Cung cấp tài liệu tham khảo thực chứng cho các dự án can thiệp phát triển cộng đồng ven biển tại Việt Nam.
Hệ thống giải pháp và kiến nghị đề xuất:
Luận án kiến nghị lập quy hoạch tổng thể không gian đầm phá, thực hiện nghiêm lộ trình xóa bỏ chắn sáo đến năm 2010, chuyển đổi sinh kế cho nhóm cư dân thủy diện, mở rộng tín dụng ưu đãi và áp dụng phương thức quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBCRM).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi không gian của luận án giới hạn khảo sát thực địa trọng tâm tại huyện Phú Vang (đặc biệt khu vực đầm Sam - Chuồn); mặc dù mang tính đại diện cho vùng trung đầm phá có nghề NTTS bùng nổ mạnh nhất, nhưng chưa bao quát toàn diện các tiểu vùng sinh thái khác (phía Bắc đầm phá Tam Giang và phía Nam phá Cầu Hai).
- Về thời gian, khảo sát thực địa tập trung từ năm 2001 đến 2003; các mô hình nuôi thâm canh trên cát công nghệ cao mới xuất hiện từ năm 2002 nên chưa đủ chu kỳ thời gian dài để đánh giá triệt để xu hướng bền vững và tác động sinh thái đất, nước ngầm lâu dài.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá biến đổi sinh kế và cơ cấu xã hội của cộng đồng sau khi hoàn thành lộ trình xóa bỏ hoàn toàn ao chắn sáo vào năm 2010.
- Nghiên cứu chuyên sâu về tác động môi trường đất và nguồn nước ngầm của các dự án nuôi tôm công nghệ cao trên cát tại vùng bãi ngang ven biển.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên huyện trên toàn hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Xã hội học, Kinh tế phát triển, Nhân học sinh thái, Địa lý kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường ven biển.
- Các nhà quản lý và hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện tại Thừa Thiên Huế (Sở Thủy sản, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, UBND huyện Phú Vang và các huyện ven phá) trong việc quy hoạch mặt nước và xây dựng chính sách giảm nghèo.
- Ban quản lý các dự án phát triển nông thôn, các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn sinh thái và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (như IDRC, WB).
Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Khung lý thuyết phân tích đa cấp độ kết hợp giữa lý thuyết hệ thống, cấu trúc chức năng và lựa chọn hợp lý trong nghiên cứu sinh kế cộng đồng ven biển.
- Bộ tiêu chí thao tác hóa khái niệm đói nghèo đa chiều (nghèo thu nhập, nghèo tri thức, nghèo nhân văn).
- Phương pháp luận kết hợp định lượng (xử lý SPSS 9.0) và định tính (133 nghiên cứu trường hợp, công cụ PRA, CBCRM).
- Hệ thống số liệu điều tra thực nghiệm về cơ cấu thu chi, phân loại giàu nghèo và thang giá trị nghề nghiệp của ngư dân đầm phá.
Câu hỏi thường gặp
1. Mốc thời gian bùng nổ nghề nuôi trồng thủy sản ở đầm phá Tam Giang được xác định vào thời điểm nào và xuất phát từ địa bàn nào?
Văn bản xác định mốc bùng nổ nghề NTTS là vào năm 1997, xuất phát đầu tiên tại xã Phú Tân (sau là thị trấn Thuận An), lan nhanh sang xã Phú An, Phú Xuân thuộc khu vực đầm Sam - Chuồn (huyện Phú Vang), rồi mở rộng ra toàn bộ hệ đầm phá Thừa Thiên Huế.
2. Luận án thao tác hóa khái niệm đói nghèo thành những nhóm tiêu chí cụ thể nào để đo lường?
Khái niệm đói nghèo được thao tác hóa thành ba trạng thái đo lường:
- Nghèo thu nhập (Income Poverty): đo lường qua mức sống, thu nhập, chi tiêu, điều kiện nhà ở, trang thiết bị sản xuất và sinh hoạt.
- Nghèo tri thức (Knowledge Poverty): đo lường qua mức độ thụ hưởng giáo dục, y tế và đời sống văn hóa tinh thần.
- Nghèo nhân văn (Human Poverty): đo lường qua cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm, an ninh an toàn và cơ hội tiếp cận tài nguyên chung, nguồn lực xã hội.
3. Sự phát triển của loại hình ao vây lưới (chắn sáo) gây ra những hệ quả tiêu cực gì đối với tài nguyên chung và nhóm ngư dân nghèo?
Ao vây lưới (chắn sáo) khoanh vùng diện tích mặt nước lớn bằng lưới mùng theo phương thức quảng canh hỗn hợp (ô nuôi NTTS chỉ chiếm 1/4 đến 1/8 diện tích, phần còn lại dùng để đánh bắt tự nhiên). Hình thức này biến mặt nước công cộng thành sở hữu tư nhân, cản trở lưu thông dòng chảy, tích tụ chất thải thức ăn gây ô nhiễm môi trường và thu hẹp nghiêm trọng ngư trường khai thác tự nhiên, đẩy bộ phận ngư dân nghèo và cư dân thủy diện không có vốn vào thế bị tước đoạt sinh kế truyền thống, gia tăng nguy cơ tái đói nghèo.
4. Cơ cấu mẫu nghiên cứu thực nghiệm định lượng và định tính của luận án được thiết kế như thế nào?
Mẫu định lượng gồm 429 phiếu khảo sát bảng hỏi tại đầm Sam - Chuồn và vùng lân cận (tháng 7/2003), riêng huyện Phú Vang có 4 đơn vị khảo sát (chiếm 50% số xã khảo sát) với 226 phiếu (chiếm 52,7% tổng số phiếu), dữ liệu xử lý bằng phần mềm SPSS 9.0. Mẫu định tính gồm 133 nghiên cứu trường hợp so sánh hai thời điểm 1998 và 2003, gồm 108 trường hợp hộ dân (81,2% tại 9 làng), 18 trường hợp cán bộ cấp xã (13,53% tại 3 xã) và 7 trường hợp cán bộ cấp huyện (5,26%).
5. Lộ trình cắt giảm diện tích ao nuôi chắn sáo tại huyện Phú Vang được văn bản ghi nhận ra sao?
Theo số liệu của Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế năm 2003 được trích trong văn bản, lộ trình cắt giảm diện tích ao chắn sáo của huyện Phú Vang gồm: năm 2004 giảm 120 ha ao chắn sáo, năm 2005 giảm tiếp 120 ha ao chắn sáo, và đến năm 2010 tiến tới xóa bỏ hoàn toàn hình thức nuôi chắn sáo trên địa bàn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Xã hội học của tác giả Trần Xuân Bình là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nghề cá sang nuôi trồng thủy sản đối với quá trình giảm đói nghèo tại đầm phá Tam Giang, huyện Phú Vang. Tác giả đã vận dụng khung phân tích lý thuyết xã hội học đa cấp độ cùng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp định lượng (SPSS 9.0) và định tính (PRA, CBCRM) để làm rõ thực trạng phân tầng xã hội, mâu thuẫn tài nguyên và các chiều cạnh nghèo thu nhập, tri thức, nhân văn. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự cần thiết phải kiểm soát quá trình nuôi trồng tự phát và đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp phát triển kinh tế đầm phá bền vững dựa vào cộng đồng. Luận án cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác quản lý tài nguyên ven biển và thực thi chính sách an sinh xã hội tại tỉnh Thừa Thiên Huế.