Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nông nghiệp giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, đảm nhận vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm, tạo việc làm, cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp và tạo thị trường tiêu thụ. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa gắn liền với nhu cầu thị trường là một tất yếu khách quan.
Tại huyện Đức Linh (tỉnh Bình Thuận), công tác quy hoạch, khoanh vùng bố trí cây trồng theo điều kiện địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu đã đạt được một số kết quả ban đầu, nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, góp phần giảm tỷ lệ hộ đói nghèo. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: phương thức sản xuất còn mang nặng tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, manh mún; tốc độ chuyển biến sang sản xuất hàng hóa còn chậm; thu nhập của người dân chưa tương xứng với tiềm năng tự nhiên; chất lượng và tính cạnh tranh của nông sản còn thấp. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng của huyện Đức Linh – Tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2000 - 2009" được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và tìm kiếm các định hướng, giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng của huyện Đức Linh trong giai đoạn 2000 – 2009 trên các khía cạnh: chuyển dịch trong toàn ngành trồng trọt, chuyển dịch trong nội bộ từng nhóm cây trồng và chuyển dịch theo không gian lãnh thổ cấp xã, thị trấn.
- Xác định các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tiến trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương.
- Đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp phát triển cơ cấu cây trồng của huyện giai đoạn 2011 – 2015 nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hướng tới phát triển bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng (cơ cấu giữa cây hàng năm và cây lâu năm; cơ cấu trong nhóm cây lương thực, cây công nghiệp; cơ cấu theo vùng).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, bao gồm 13/13 xã và thị trấn (Võ Xu, Đức Tài, Mê Pu, Sùng Nhơn, Đa Kai, Nam Chính, Đức Chính, Đức Hạnh, Đức Tín, Vũ Hòa, Tân Hà, Trà Tân, Đông Hà).
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng dựa trên chuỗi số liệu giai đoạn 2000 – 2009; đề xuất định hướng và giải pháp quy hoạch đến năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm nền tảng của địa lý kinh tế nông nghiệp và khoa học cây trồng:
- Khái niệm cơ cấu cây trồng (CCCT): Tác giả tổng hợp quan điểm của Phạm Chí Thành (1996), Đào Thế Tuấn (1984), Lý Nhụ, Dương Hữu Tuyển và Phùng Đăng Chỉnh (1987), xác định cơ cấu cây trồng là tỷ lệ các loại cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian, phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng nhằm tận dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực sẵn có.
- Khái niệm chuyển dịch cơ cấu cây trồng: Theo Nguyễn Duy Tính (1995), chuyển đổi cơ cấu cây trồng là quá trình thực hiện đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và chính sách xã hội để thay đổi hiện trạng cơ cấu cây trồng hiện có sang cơ cấu mới đáp ứng các mục tiêu phát triển sản xuất hàng hóa và xã hội.
- Hệ thống các nhân tố ảnh hưởng: Được phân thành hai nhóm chính gồm nhân tố tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, nguồn nước, thổ nhưỡng) và nhân tố kinh tế - xã hội (dân cư - lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ nông sản, chính sách phát triển của Nhà nước).
Khóa luận vận dụng 4 quan điểm nghiên cứu địa lý học:
- Quan điểm hệ thống: Đặt ngành nông nghiệp và cơ cấu cây trồng Đức Linh trong mối quan hệ tổng thể với hệ thống kinh tế - xã hội của huyện, tỉnh Bình Thuận và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Quan điểm lãnh thổ: Phân tích sự phân hóa của các mô hình cây trồng gắn với sự khác biệt về địa hình, đất đai, nguồn nước tại từng tiểu vùng và từng đơn vị hành chính cấp xã.
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Khảo sát tiến trình biến động cơ cấu cây trồng trong quá khứ (2000 – 2009) để dự báo và định hướng phát triển cho tương lai (2011 – 2015).
- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Đánh giá hiệu quả kinh tế gắn liền với bảo vệ tài nguyên đất, nguồn nước và môi trường sinh thái, tránh chạy theo lợi ích trước mắt làm thoái hóa môi trường tự nhiên.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai:
- Phương pháp thu thập số liệu: Khai thác tư liệu từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Đức Linh, Phòng Thống kê huyện Đức Linh, các báo cáo chuyên đề và tài liệu điều tra đất chương trình 52E của tỉnh Bình Thuận.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu năng suất, diện tích, cơ cấu cây trồng giữa các năm và giữa huyện Đức Linh với các địa phương lân cận trong tỉnh.
- Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát thực tế các vùng chuyên canh, các mô hình chuyển đổi mùa vụ và phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân trên địa bàn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Xử lý chuỗi số liệu thống kê để rút ra các quy luật chuyển dịch cơ cấu.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Xây dựng bản đồ hành chính, biểu đồ cơ cấu diện tích và tăng trưởng cây trồng để trực quan hóa không gian và tiến trình nghiên cứu.
Nguồn dữ liệu chính được sử dụng từ Niên giám thống kê huyện Đức Linh năm 2009, hệ thống phân loại đất Việt Nam theo FAO - UNESCO và các văn bản chỉ đạo sản xuất của UBND huyện Đức Linh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cơ cấu cây trồng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và các tiêu chuẩn đánh giá một cơ cấu cây trồng hợp lý (tỷ lệ diện tích cây lương thực, cây công nghiệp, mức độ thâm canh, tỷ lệ nông sản hàng hóa). Tác giả phân tích chi tiết vai trò của 5 nhân tố tự nhiên và 5 nhân tố kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến sự lựa chọn loại cây trồng trên đồng ruộng.
Về mặt thực tiễn, tác giả tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Bình Thuận:
- Tỉnh đã triển khai các mô hình cánh đồng đạt doanh thu 30 – 50 triệu đồng/ha/năm; hàng năm chuyển dịch khoảng 3.500 ha đất lúa sang các mô hình xen canh, luân canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
- Mô hình luân canh 2 vụ lúa (năng suất 105 – 123 tạ/ha) + 1 vụ ngô lai (năng suất 50 – 90 tạ/ha) cho doanh thu gần 50 triệu đồng/ha/năm; mô hình 1 vụ lúa + 1 vụ bông vải cho doanh thu hơn 30 triệu đồng/ha/năm.
- Chuyển đổi 332 ha cây trồng hàng năm kém hiệu quả sang trồng nho tại Tuy Phong đạt thu nhập 50 – 60 triệu đồng/ha.
- Toàn tỉnh đã phát triển diện tích cao su đạt khoảng 22.000 ha vào cuối năm 2009, trong đó riêng hai huyện Đức Linh và Tánh Linh chiếm khoảng 18.000 ha. Năng suất cao su tại đây đạt 1,5 – 1,8 tấn/ha, lợi nhuận đạt từ 45 – 50 triệu đồng/ha. Từ bối cảnh của tỉnh, tác giả xác định khung tiếp cận cho huyện Đức Linh tập trung vào: chuyển dịch giữa cây hàng năm và lâu năm, chuyển dịch nội bộ nhóm cây lương thực và cây công nghiệp, chuyển dịch theo địa bàn cấp xã.
Chương 2: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Linh – Tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2000 – 2009
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích điều kiện địa bàn và thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng của huyện.
1. Các nhân tố ảnh hưởng tại huyện Đức Linh:
- Vị trí và địa hình: Huyện có diện tích 534,912 km² (53.491,2 ha), nằm ở vùng chuyển tiếp giữa Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; tiếp giáp Lâm Đồng và Đồng Nai. Địa hình dạng lòng chảo gồm 4 vùng: vùng núi cao phía Bắc (11.500 ha, chiếm 21%), vùng đồng bằng ven sông La Ngà (11.181,2 ha, chiếm 34,8%), vùng đồi lượn sóng phía Bắc (4.500 ha) và vùng đồi gò lượn sóng phía Nam (26.310 ha).
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân 28,42°C (tháng 4) và thấp nhất 24,65°C (tháng 12 - tháng 1); lượng mưa 1.800 – 2.800 mm tập trung 90% vào mùa mưa (tháng 5 – tháng 10); số giờ nắng 2.643,91 giờ/năm. Nguồn nước mặt dồi dào từ sông La Ngà (dài 70 km qua huyện, lưu lượng mùa mưa 65,2 – 190 m³/s, mùa khô 7,37 m³/s), hồ Trà Tân (226 ha), hồ Biển Lạc và hệ thống suối tự nhiên.
- Thổ nhưỡng: Đất đai gồm 6 nhóm chính theo phân loại FAO - UNESCO: đất xám Acrisols (14.639,2 ha), đất đỏ Ferasols (12.234,8 ha), đất phù sa Fluvisols (12.063,2 ha), đất đen Luvisols (2.284,2 ha), đất cát Arenosols (580,3 ha) và đất Gley (366,1 ha). Diện tích đất nông nghiệp năm 2009 là 45.696 ha, trong đó đất phục vụ trồng trọt chiếm 39.279 ha (73,43% diện tích tự nhiên).
- Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2009 đạt 127.453 người, mật độ 238 người/km², lực lượng lao động 77.738 người. Cơ sở hạ tầng gồm 7 trạm bơm điện, 3 đập thủy lợi nhỏ, 237 km kênh mương; trạm biến áp 110KV; 3 chi nhánh ngân hàng (huy động hơn 210 tỷ đồng, doanh số cho vay 375,6 tỷ đồng) và 7 quỹ tín dụng nhân dân (huy động 70,406 tỷ đồng, doanh số cho vay 121,884 tỷ đồng). Toàn huyện có 70 cơ sở kinh doanh giống và thuốc bảo vệ thực vật, 16 tổ hợp tác/hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.
2. Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng giai đoạn 2000 – 2009:
- Chuyển dịch giữa cây hàng năm và cây lâu năm: Diện tích cây lâu năm tăng từ 16.473 ha (năm 2000, chiếm 41,31%) lên 22.718 ha (năm 2009, chiếm 48,16%), tăng 6.245 ha. Diện tích cây hàng năm chuyển biến từ 23.307 ha (58,69%) năm 2000 lên 24.452 ha (51,84%) năm 2009.
- Chuyển dịch trong nhóm cây lương thực và hàng năm:
- Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2009 đạt 92.482 tấn (tăng 5,02% so với năm 2006). Năng suất lúa bình quân cả năm 2009 đạt 45,4 tạ/ha (tăng 8,47 tạ/ha so với 2006); năng suất ngô đạt 68,11 tạ/ha (tăng 11,76 tạ/ha). Năng suất lúa đông xuân năm 2009 đạt 45,96 tạ/ha (tăng 6,13 tạ/ha so với 2000).
- Chuyển đổi đất lúa 1 vụ bấp bênh từ 9.718 ha (năm 2005) xuống còn 8.016 ha (năm 2010).
- Chuyển đổi đất lúa 2 vụ lên 3 vụ đạt 2.978,7 ha.
- Luân canh 2 vụ lúa + 1 vụ ngô (hoặc 1 lúa + 1 ngô) trên diện tích 2.086 ha trong giai đoạn 2005 – 2009 (năm 2006: 377 ha, năm 2007: 527 ha, năm 2008: 582 ha, năm 2009: 600 ha), năng suất ngô vụ đông xuân đạt 79,22 tạ/ha.
- Chuyển 627 ha đất lúa sang luân canh 1 vụ lúa + 1 vụ rau đậu (đậu các loại 323 ha, dưa hấu 304 ha với lợi nhuận 50 – 60 triệu đồng/ha/vụ); bố trí 327 ha lạc trên chân ruộng 2 lúa đạt năng suất trên 22 tạ/ha/vụ.
- Chuyển dịch trong nhóm cây lâu năm và cây công nghiệp:
- Trong 10 năm tính đến cuối năm 2009, tổng diện tích đất chuyển sang trồng cây cao su đạt hơn 4.869 ha (chuyển từ đất điều 4.394 ha, đất màu 61,51 ha, cây ăn quả 173,94 ha, cà phê 49,43 ha, tiêu 134 ha, đất chưa sử dụng 179,29 ha, vườn tạp 35,62 ha).
- Năm 2009, do dịch bệnh làm tiêu chết, nông dân chuyển đổi 544,8 ha hồ tiêu, 12,7 ha cà phê và 83 ha cây ăn quả già cỗi sang trồng cây lâu năm khác.
- Phát triển mô hình trồng xen cây ca cao dưới tán điều từ năm 2008 đạt diện tích 200 ha tại các xã Đa Kai, Đức Hạnh, Đức Tín.
- Toàn huyện hình thành 288 trang trại kinh doanh cây cao su, cây ăn quả, hồ tiêu cho doanh thu bình quân trên 500 triệu đồng/năm.
3. Đánh giá chung: Sự chuyển dịch phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp hàng hóa, khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai. Tuy nhiên, sự chuyển dịch còn mang tính tự phát, việc giảm nhanh diện tích cây hàng năm tiềm ẩn rủi ro đối với cân đối an ninh lương thực lâu dài.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Linh – Bình Thuận đến năm 2015
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất định hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ; ổn định diện tích lúa thâm canh để bảo đảm an ninh lương thực, đồng thời mở rộng cây công nghiệp dài ngày ở những vùng đất dốc, gò đồi.
Hệ thống giải pháp được đề xuất gồm 7 nhóm chính:
- Đất đai và quy hoạch: Rà soát quy hoạch tổng thể sử dụng đất, phân vùng sinh thái nông nghiệp cụ thể cho từng loại cây (cao su, điều, lúa, màu), chấm dứt tình trạng chặt bỏ cây trồng tự phát chạy theo giá cả thị trường.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Đầu tư kiên cố hóa hệ thống kênh mương thủy lợi lấy nước từ sông La Ngà và hồ Trà Tân; nâng cấp lưới điện phục vụ bơm tưới và các trạm cơ giới hóa nông nghiệp.
- Dịch vụ phục vụ trồng trọt: Quản lý chặt chẽ 70 cơ sở kinh doanh giống cây trồng và vật tư nông nghiệp; củng cố hoạt động của 16 hợp tác xã và câu lạc bộ khuyến nông cơ sở.
- Thị trường tiêu thụ: Mở rộng thị trường liên kết tiêu thụ sản phẩm với TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và duy trì thị trường xuất khẩu mủ cao su sang Nhật Bản; phát triển mạng lưới 68 cơ sở thu mua nông sản tại địa phương.
- Khoa học - công nghệ: Ứng dụng các giống cây trồng mới ngắn ngày, năng suất cao; phổ biến kỹ thuật cạo mủ cao su, kỹ thuật ghép cải tạo điều và kỹ thuật chăm sóc mô hình ca cao xen điều.
- Đào tạo nguồn nhân lực: Chuẩn hóa trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ nông nghiệp cấp xã, mở các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ cho nông dân nông thôn.
- Quản lý nhà nước và chính sách: Đẩy mạnh nguồn vốn vay ưu đãi thông qua 3 chi nhánh ngân hàng và 7 quỹ tín dụng nhân dân; ban hành cơ chế khuyến khích kinh tế trang trại và liên kết "4 nhà".
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã định lượng cụ thể sự chuyển dịch diện tích giữa các nhóm cây trồng tại huyện Đức Linh qua bảng số liệu tổng hợp sau:
| Nhóm cây trồng |
Năm 2000 (ha) |
Tỷ trọng 2000 (%) |
Năm 2009 (ha) |
Tỷ trọng 2009 (%) |
Biến động diện tích (ha) |
| Cây hàng năm |
23.307 |
58,69 |
24.452 |
51,84 |
+1.145 |
| Trong đó: Đất lúa 1 vụ |
9.718 (năm 2005) |
- |
8.016 (năm 2010) |
- |
-1.702 |
| Mô hình luân canh lúa + ngô |
377 (năm 2006) |
- |
600 (năm 2009) |
- |
+223 |
| Cây lâu năm |
16.473 |
41,31 |
22.718 |
48,16 |
+6.245 |
| Trong đó: Chuyển sang cao su |
- |
- |
4.869,79 (tổng 10 năm) |
- |
+4.869,79 |
| Mô hình ca cao xen điều |
0 (trước 2008) |
- |
200 (năm 2009) |
- |
+200 |
| Tổng diện tích gieo trồng |
39.780 |
100,00 |
47.170 |
100,00 |
+7.390 |
Bên cạnh số liệu diện tích, nghiên cứu xác nhận các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đạt được đến năm 2009:
- Năng suất lúa cả năm đạt 45,4 tạ/ha, sản lượng lương thực quy thóc đạt 92.482 tấn.
- Năng suất ngô vụ đông xuân đạt 79,22 tạ/ha; mô hình luân canh dưa hấu đạt lợi nhuận 50 – 60 triệu đồng/ha/vụ; mô hình lạc đạt năng suất trên 22 tạ/ha/vụ.
- Đã chuyển đổi 4.394 ha điều già cỗi sang cao su; phát triển 288 trang trại với doanh thu bình quân trên 500 triệu đồng/năm.
Đóng góp so với các nghiên cứu trước
So với các công trình nghiên cứu trước đây tại địa phương (tiêu biểu như tiểu luận tốt nghiệp của Trương Quang Đến chỉ dừng lại ở phân tích khái quát và tập trung vào yếu kém trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi nói chung), khóa luận của Lê Quang Trực có những đóng góp cụ thể:
- Đi sâu phân tích chi tiết cơ cấu cây trồng theo từng nhóm cây chuyên biệt (phân hóa rõ nhóm cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp lâu năm).
- Đánh giá sự chuyển dịch gắn liền với điều kiện thổ nhưỡng 6 nhóm đất theo chuẩn FAO - UNESCO và địa hình 4 tiểu vùng của huyện.
- Cung cấp bức tranh chuyển dịch chi tiết đến từng đơn vị hành chính cấp xã (13/13 xã, thị trấn), chỉ rõ các mô hình luân canh đặc thù tại từng cánh đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian mới dừng lại ở cấp độ đơn vị hành chính xã/thị trấn, chưa đi sâu phân tích chi tiết đến từng thôn/bản hoặc các tiểu vùng vi khí hậu đặc thù. Chuỗi số liệu thống kê chi tiết của một số chỉ tiêu chỉ tập trung phản ánh giai đoạn 2000 – 2009, chưa đánh giá được toàn diện biến động giá nông sản thế giới ảnh hưởng đến tốc độ chuyển đổi cây cao su sau năm 2010.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình xen canh (đặc biệt là mô hình ca cao dưới tán điều) trong điều kiện biến đổi khí hậu; theo dõi và đánh giá tác động của việc giảm diện tích đất lúa đối với vấn đề an ninh lương thực và nguồn nước lưu vực sông La Ngà trong giai đoạn sau 2015.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Địa lý kinh tế - xã hội, Địa lý nông nghiệp, Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu cơ cấu cây trồng cấp huyện.
- Cán bộ quản lý và quy hoạch địa phương: Cán bộ Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Tài nguyên & Môi trường các huyện thuộc vùng chuyển tiếp Đông Nam Bộ - Tây Nguyên tham khảo trong công tác phân vùng cây trồng.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu phân loại 6 nhóm đất theo chuẩn FAO - UNESCO tại huyện Đức Linh (Chương 2) và các mô hình kỹ thuật luân canh thâm canh lúa - ngô - rau đậu, mô hình ca cao xen điều được lượng hóa bằng số liệu cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu giữa cây hàng năm và cây lâu năm tại huyện Đức Linh đã biến động như thế nào trong giai đoạn 2000 – 2009?
Trong giai đoạn 2000 – 2009, cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm cây lâu năm và giảm tỷ trọng nhóm cây hàng năm. Năm 2000, cây hàng năm chiếm 58,69% (23.307 ha), cây lâu năm chiếm 41,31% (16.473 ha). Đến năm 2009, diện tích cây lâu năm tăng lên 22.718 ha (chiếm 48,16%), trong khi cây hàng năm chiếm 51,84% (24.452 ha).
2. Huyện Đức Linh có những nhóm đất chính nào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp theo phân loại FAO - UNESCO?
Theo kết quả điều tra chương trình 52E của tỉnh Bình Thuận, đất huyện Đức Linh gồm 6 nhóm chính: đất xám Acrisols (14.639,2 ha), đất đỏ Ferasols (12.234,8 ha), đất phù sa Fluvisols (12.063,2 ha), đất đen Luvisols (2.284,2 ha), đất cát Arenosols (580,3 ha) và đất Gley (366,1 ha).
3. Hiệu quả của mô hình luân canh cây trồng trên đất lúa giai đoạn 2005 – 2009 được ghi nhận bằng những số liệu nào?
Giai đoạn 2005 – 2009, huyện đã thực hiện luân canh 2 lúa + 1 ngô (hoặc 1 lúa + 1 ngô) trên diện tích 2.086 ha, năng suất ngô vụ đông xuân 2009 đạt 79,22 tạ/ha. Chuyển đổi 627 ha đất lúa sang trồng lúa luân canh với rau đậu (323 ha đậu, 304 ha dưa hấu cho lợi nhuận 50 – 60 triệu đồng/ha/vụ) và 327 ha lạc trên chân ruộng 2 lúa đạt năng suất trên 22 tạ/ha/vụ.
4. Quy mô và nguồn đất chuyển đổi sang trồng cây cao su tính đến cuối năm 2009 diễn ra như thế nào?
Trong 10 năm tính đến cuối năm 2009, toàn huyện đã chuyển đổi hơn 4.869 ha sang trồng cao su, chủ yếu lấy từ đất trồng điều già cỗi (4.394 ha), đất cây ăn quả (173,94 ha), đất chưa sử dụng (179,29 ha), đất tiêu (134 ha), đất màu (61,51 ha), đất cà phê (49,43 ha) và đất vườn tạp (35,62 ha).
5. Hạ tầng kỹ thuật và tín dụng hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2009 có quy mô ra sao?
Đến năm 2009, huyện có 7 trạm bơm điện, 3 đập thủy lợi nhỏ, 237 km kênh mương; trạm biến áp 110KV; 3 chi nhánh ngân hàng (huy động trên 210 tỷ đồng, doanh số cho vay 375,6 tỷ đồng) và 7 quỹ tín dụng nhân dân (huy động 70,406 tỷ đồng, doanh số cho vay 121,884 tỷ đồng), cùng 70 cơ sở kinh doanh giống và vật tư nông nghiệp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Lê Quang Trực đã phản ánh bức tranh chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Đức Linh giai đoạn 2000 – 2009 dựa trên cơ sở lý luận địa lý kinh tế và hệ thống số liệu thực địa tin cậy. Nghiên cứu chỉ ra xu hướng tăng trưởng diện tích cây công nghiệp lâu năm (đặc biệt là cây cao su) và hiệu quả của các mô hình thâm canh, luân canh lúa - màu trên đất đồng bằng ven sông La Ngà. Các nhóm giải pháp về quy hoạch đất đai, nâng cấp thủy lợi, chuyển giao kỹ thuật và liên kết thị trường được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với sự phát triển nông nghiệp của địa phương đến năm 2015.