Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Các giải pháp, kiến nghị 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG Tại Điều 8 - Quyết định số 08/2001/QĐ - TTG ngày 11/01/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định ghi rõ : "Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nƣớc nằm sát ranh giới với các Vƣờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trơ ̣ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đ ệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài đ ộng vật hoang dã và chặt phá các loài thực vật là đ ối tƣợng bảo vệ. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tƣ xây dựng và phát triển vùng đệm đƣợc phê duyệt cùng với dự án đầu tƣ của khu rừng đặc dụng.
Chủ đầu tƣ dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hơ ̣p v ới UBND các cấp và các cơ quan , đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phƣơng án sản xuất lâm - nông - ngƣ nghiệp, định canh định cƣ trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định, nâng cao đời sống của ngƣời dân. Nhƣ vậy, vùng đệm phải đƣợc xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn, những lâm trƣờng quốc doanh tiếp giáp với khu bảo tồn nên đầu vào trong vùng đ ệm vì những hoạt động của các lâm trƣờng này có ảnh hƣởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và khu bảo tồn. Trong những trƣờng hơ ̣p nhƣ th ế, ranh giới vùng đệm không nhất thiết cách đều một khoảng và chạy song song với ranh giới các khu bảo tồn. Xem xét các vùng đệm đã có hi ện nay tại các VQG và khu bảo tồn chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo một khuôn khổ thống nhất.
Dù vùng đệm của khu bảo tồn 6 đƣợc tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xảy ra, do dân cƣ sinh sống xung quanh khu bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn, đã buộc các ban quản lý VQG và khu bảo tồn phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cƣ đây, giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải quyết những mâu thuẫn xảy ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn v. Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng ph ải thƣờng xuyên lo lắng, và không thể bỏ qua đƣợc. Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng của việc quản lý vùng đệm. Để giải quyết những vấn đề đặt ra liên quan đến vùng đệm, Việt Nam đã tổ chức 3 hội thảo về vùng đệm.
Hội thảo tháng 3/1999 tại Hà Nội có tác giả đã đƣa ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo tồn Việt Nam nhƣ sau: "Vùng đệm là những vùng đƣợc xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và đƣợc quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lơ ̣i ích cho nhân dân s ống quanh khu bảo tồn”. Điều này có thể thực hiện đƣợc bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của các cƣ dân sống trong vùng đệm". Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phƣơng và các đơn v ị kinh tế khác nằm trong vùng đệm .Định nghĩa trên đã nói rõ ch ức năng của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm; và tạo điều kiện mang lại cho những ngƣời sinh sống trong vùng đệm những lơ ̣i ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn. Vùng đệm của VQG Tam Đảo đƣợc xác định nằm trên địa bàn của 27 xã và thị trấn thuộc 6 huyện và 3 tỉnh, cụ thể là: Tỉnh Vĩnh Phúc : Bao gồm các xã Hồ Sơn, Hơ ̣p Châu , Minh Quang, Đại Đình, Tam Quan thuộc huyện Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo; xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên; và xã Ngọc Thanh thuộc huyện Mê Linh.
Tỉnh Thái Nguyên: Bao gồm các xã Quân Chu , Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên, Hoàng Nông, Phú Xuyên, La Bằng, Mỹ Yên, Khôi Kỳ, Yên Lãng và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ; xã Phúc Thuận và Thành Công thuộc huyện 7 Phổ Yên. Tỉnh Tuyên Quang : Bao gồm các xã Ninh Lai, Thiện Kế, Hơ ̣p Hoà , Kháng Nhật, và Hơ ̣p Thành thuộc huyện Sơn Dƣơng. Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững a. Theo Trung tâm nuôi trồng Thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dƣơng (NACA): Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên , đất đai, đƣờng xá.) và các hoạt động cần có để kiếm sống.
Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lơ ̣i cho đ ời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng. Nhờ các chiến lƣợc sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lƣơng thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên.Tài sản sinh kế: Khái niệm tài sản sinh kế rất mềm dẻo và tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của địa phƣơng nơi áp dụng. DFID (1999) đã xây dựng một cách cụ thể các tính chất của năm tài sản sinh kế. Nói chung, tài sản con ngƣời (vốn con ngƣời) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến ức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con ngƣời có khả năng theo đuổi các chiến lƣợc sinh kế khác nhau và đạt đƣợc mục tiêu sinh kế của họ.
Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con ngƣời bao gồm số lƣợng và chất lƣợng của lao động. Số lƣợng và chất lƣợng của lao động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần,năng lực lãnh đạo, v. Sinh kế bền vững: Một sinh kế đƣợc xem là bền vững khi nó phải phát huy đƣợc tiềm năng của con ngƣời để từ đó sản xuất và duy trì phƣơng ti ện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đƣơng đầu và vƣợt qua áp lực cũng nhƣ các thay đổi bất ngờ.
Sinh kế bền vững không đƣợc khai thác hoặc gây bất lơ ̣i cho môi trƣ ờng hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tƣơng lai. Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hoà hơ ̣p giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tƣơng lai. Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này ph ải hội tụ đủ những nguyến tắc sau: Lấy con ngƣời làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của ngƣời dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con ngƣời và 8 đối phó với các khả năng dễ bị tổn thƣơng, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động. Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng nhƣ từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những ngƣời cùng sống trong một mái nhà - nhóm ngƣời đó bao gồm những ngƣời cùng chung huyết tộc và những ngƣời làm công.
Có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân: - Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) [9] cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". - Đào Thế Tuấn (1997) [8] cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. - Nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" .[3] Khái niệm kinh tế nông hộ: - Theo “Bài giảng kinh tế lâm nghiệp” của thầy Trần Công Quân (Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) thì: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn.của gia đình mình là chính”.[11] + Lâm Quang Huyên (2004), [6]đã đề cập tới hai khái niệm về nông hộ nhƣ sau: - Khái niệm thứ nhất, nông hộ là một đơn vị sản xuất cơ bản của nền nông nghiệp hàng hoá nƣớc ta, đƣợc tổ chức trên nguyên tắc tích tụ và tập trung ruộng đất, tích tụ và tập trung vốn, tập trung vào chuyên môn hoá lao động, vào một hay nhiều chủ thể kinh doanh ở một quy mô nhất định nhằm đạt sản lƣợng hàng hoá cao, với tỷ suất hàng hoá cao. 9 - Khái niệm thứ hai, nông hộ là loại cơ sở sản xuất của hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng từ khi phƣơng thức sản xuất tƣ bản thay thế phƣơng thức sản xuất phong kiến.
Nông hộ ra đời từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín, vƣơn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trƣờng, từng bƣớc thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh.