Chương 1: Cơ sở lí luận về nhà ở cho người lao động 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nguon Lao động Nguôn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Cân phân biết nguồn lao động với dân số trong độ tudi lao động. Cả hai thuật ngữ trên đều giới hạn độ tuôi lao động theo luật định của mỗi nước, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động, trong khi dân số trong độ tuôi lao động còn bao gồm bộ phận danh số trong độ tuổi lao động nhưng không có kha năng lao động như tản tật mat sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân: chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động. Vi thé, quy mô dân số trong độ tuổi lao động lớn hơn quy mô nguồn lao động.
Việc quy đỉnh độ tuổi lao động ở các nước khác nhau không giống nhau. Các căn cứ dé xác định độ tuôi lao động là: ~ Sức khỏe của người dân - Giới tính - Trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay, theo quan điểm bình đăng giới cho rằng không nên căn cứ vào giới tính dé quy định độ tuôi lao động. Độ tuổi tối thiểu và độ tuổi tối đa được quy định tùy theo tình hình cụ thể của mỗi nước.
Ở Việt Nam: Căn cứ vào Điều 6 của bộ luật Lao động của nước cộng hòa XHCN Việt Nam đã sửa đôi bé sung năm 2002 “ Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động va có giao kết hợp đồng lao động” và điều 145 “ Người lao động được hướng chế độ hưu trí hang tháng khi có du điều kiện vẻ tuổi đời va thời gian đã đóng bảo hiém xã hội như sau: nam đủ 60 tuôi, nữ đủ 55 tuôi.” Căn cứ vào đó, độ tuôi lao động của Việt Nam được xác định như sau: - Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi. - Nữ từ đú 15 tudi đến 5S tuổi.2 Nhà ở xã hội Theo những điều khoản, quy phạm trong của Nghị định số 90/2006/ND- CP ngảy 6 tháng 9 năm 2006 về Quy định chỉ tiết và hướng dan thi hành Luật Nhà ở, chúng ta có khái niệm về “nhà ở xã hội” được dùng nhất thê hóa với nhả ở công nhân, người lao động tại các KCN, KCX như sau: “Nhà ở xã hội" được hiểu là nhà ở do nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây đựng cho các đối tượng quy định tại điều 53 và điều 54 của Luật Nha ở thuê hoặc thuê mướn theo cơ chế do Nha nước quy định.” Ngoài ra trong luật Nhà ở còn có quy định ve điều kiện được thuê va mua nhà ở xã hội bao gồm: - Chưa có sở hữu nha và chưa được thuê hoặc thuê mua nha ở thuộc sở hữu nhà nước, có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng điện tích bình quân trong hộ gia đình dưới 5mỶ sản/ người, nha ở thuộc sở hữu của mình nhưng là nhà ở tạm, hư hỏng hoặc dột nát. - Người được thuê — mua quỹ nhà ở xã hội ngoài các điều kiện quy định nỏi trên còn phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà được thuê mua. Vấn dé nha nước khuyến khích các thành phân kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, cho người lao động được thẻ hiện qua các chính sách về dat đai như: không tính tiền sử dụng dat, tiền thuê đất, có những chính sách ưu đãi vẻ thuế, ưu đãi về lãi suất vốn vay vả các chính sách tạo 10 điều kiện va ưu đãi khác như giả cho thuê, giá thuê mua được tinh trên nguyên tắc bảo toan vốn dau tư xây dựng.3 Nhu cau nhà ở Nhu câu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đỏi hỏi, mong muon, nguyện vọng của con người vẻ vật chat va tỉnh than dé tồn tại va phát triển.
Tay theo trình độ nhận thức, môi trường song, những đặc điểm tâm sinh lý. mỗi người có những nhu cau khác nhau. Nhu cau là yếu tô thúc day con người hoạt động. Nhu cầu cảng cấp bach thì kha năng chi phôi con người cảng cao.
Nhu câu chi phối mạnh mẽ đến đời sông tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu câu là cảm giác thiêu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Cónhiều loại nhu câu khác nhau của con người như nhu cau an uống, nhu cầu được giáo dục, nhu câu được yêu thương, nhu cầu được kính trọng. trong đó như câu nhà ở là một nhu cau thiết yếu trong cuộc sống hang ngày.
Bởi lề, nhà ở là nơi con người sinh sống, tri ngụ trong thời gian dai, nhiều hoạt động đều diễn ra trong nhà. Vi vậy, nhu cau của con người mong muôn có một nơi ở phù hợp với cuộc sống, mong muốn nơi đó có dé đáp ứng những yêu cầu của bản thân họ đặt ra, đó chính là nhu cau nha ở.4 Vai trò của nhà ở Nhà ở là vấn để kinh tế - xã hội - nghệ thuật vả khoa học kỹ thuật rất rộng lớn, là nhu cau thiết yếu của mọi tang lớp nhân dân trong xã hội, đồng thời là quyển cơ bản của con người, nó còn ham chứa cả một cách nhìn vẻ thang bậc bảy yếu tô cơ bản của cuộc sông con người xã hội, được nhà nước công nhận và chăm lo thông qua các chính sách, định hướng, hỗ trợ tạo điều kiện dé nhân dân tạo lập chỗ 6 cho phủ hợp với nhu cau vả khả năng,. II Do có mỗi quan hệ mật thiết của nha ở đổi với đời sông gia đình va với cơ cau xã hội, nó là rường cột của sự ôn định xã hội, liên quan đên phúc lợi xã hội và sự thỏa mãn của các nhóm. Việc cung cấp nhà ở sẽ phản ánh hệ thông xã hội cơ bản của quốc gia.
Vì vậy chính bản chất tự nhiên của nhà ở làm cho nó mang tính chính trị, va do đó bị chỉ phối bởi những áp lực chỉnh trị trên tat cả các bình điện sản xuất, tài chính vả tiêu thụ. Nhà ở biểu hiện bau không khí chính trị và kinh tế của một xã hội cũng như trên bat ky bình điện nao cua đời sông của quốc gia. Người ta có thé thay được nhà ở có 3 vai trò chính sau: - Nha ở là nơi trủ ngụ của con người sau một ngày lam việc, học tap vất vả. La nơi nghỉ ngơi, phục hồi sức lực dé có thẻ tiếp tục công việc của minh.
- Trong điều kiện thời tiết khác nhau như mua, nắng, rét. thì ngôi nha chính là nơi bảo vệ con người tránh khỏi những ảnh hưởng xấu của thiên nhiên đó, dam bao sức khỏe của con người tránh tác động của điều kiện tự nhiên. - La nơi đáp ứng những nhu câu can thiết của con người vẻ vật chất và tỉnh thân. Phản ánh phân nào thực trạng kinh tế gia đình.5 Lao động nhập cư Nhập cư lả việc một người đến va trở thành người định cư tại một địa phương, một vùng hay một quốc gia.
Lao động nhập cư là người dân từ các tinh đến một tỉnh khác sinh sống, làm việc vả chưa có hộ khâu thường trú tại địa phương. Những người từ các tỉnh về địa phương nhưng đã được giải quyết hộ khẩu thường trú vì đủ tiêu chuan quy đình không nằm trong phạm tri nảy. Lao động nhập cư phân thành các nhóm sau: e Lao động nhập cư thường là những người dân lao động nghèo khổ, không có dat đai canh tác, không có tư liệu sản xuat, sinh sống ở các tỉnh 12 nghéo, lao động nông nghiệp lả chủ yếu. Ho đã rời bỏ làng quê dé đến các vùng công nghiệp phát triển để tìn kiểm việc làm.
Họ là những người có sức khỏe nhưng trình độ học van thấp va không có trình độ chuyên môn. Vi vậy, việc làm của họ rất đa dạng, ho sẵn sàng lam nhiều công việc dé có thé sinh sông trên manh đất mới này. Những người lao động nhập cư nay chủ yếu lam việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, ở các công ty, xí nghiệp sử dụng nhiều lao động phỏ thông như may mặc, giày da, gỗ. Đây cũng là một trong những đôi tượng chính của bài nghiên cứu.
e Lao động nhập cư có thê là những người có trinh độ học van tuong đối cao, đó là các sinh viên ở các vùng quê nghèo đến địa phương học tập, khi kết thúc khỏa học, họ có nhu cầu ở lại lam việc tại địa phương. e Lao động nhập cư cũng có thể là những người lao động cho một tô chức ở địa phương khác được điều động vẻ địa phương tiếp tục công việc được giao. Họ thường là người có địa vị trong các tô chức xã hội. Những người này khi nhập cư vào địa phương thì ít gặp khỏ khăn vì họ có được sự hỗ trợ từ tô chức của mình.
Tat cả những người lao động nhập cư rời bỏ quê cha đất tỏ dé tìm đến một vùng đất khác đẻ sinh sống bởi nhiều lý do khác nhau. Nhưng nhìn chung họ ra đi vì mưu cầu cuộc sông 4m no. Ở các vung quê, lực lượng lao động lớn tuy nhiên với nhu cầu sử đụng lao động lại thấp, không có nhiều việc làm cho họ, với mức thu nhập thấp khó đáp ứng nhu câu cần thiết cho họ. Vì vậy, đi đến vùng công nghiệp mới sẽ tạo nhiều cơ hội làm việc mới với mức thu nhập cao hơn nhằm trang trải cho nhu cầu trong cuộc sống và phụ giúp gia đình ở quê.2 Các vấn dé ảnh hưởng đến nhà ở cho người lao động: 1.1 Độ tudi Một con người khi còn trẻ thi sức lực dồi dao, muốn được tự do thoải mai.
Chủ nghĩa độc tôn được đưa lên hàng dau, không muốn phải vướn bận vào nhiều việc, vì thế nhu cẩu cần một mái 4m cũng không được chú ý đến. Nhưng khi ngày càng lớn tuổi, họ cảm thấy can một nơi nghỉ chân thực sự, một mái am gia đình vả họ bat đầu suy nghĩ đến có một ngôi nha dé sinh song. Vì thế, tuôi tác ảnh hưởng đến suy nghĩ và cam tính đến sự cần thiết về một ngôi nha cho ban thân minh, Một vấn đề khác, khi tuôi còn trẻ khi làm việc không có nhiều thâm niên nên lương hưởng cũng thấp, cho did muốn có một ngôi nha cũng không đủ khả năng. Khi tudi đời càng cao, thu nhập cao hơn nên sẽ có điều kiện mua nhà.
Vậy độ tuôi sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu nha ở, tuôi càng cao thì nhu cầu và điều kiện có nhà sẽ cảng tăng.