Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Địa lý của tác giả Nguyễn Thị Bảo Linh (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2001 - 2005, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Xuân Hậu) tập trung nghiên cứu đề tài "Du lịch thị xã Bảo Lộc hiện trạng và những giải pháp". Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh ngành du lịch toàn cầu và du lịch Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ sau khi Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thông qua Hiến chương Du lịch (1979) và ghi nhận quy mô hàng năm đạt khoảng 3 tỉ lượt người đi du lịch trên thế giới (bình quân 80 triệu người mỗi ngày). Tại Việt Nam, năm 2004 ngành du lịch đã đạt doanh thu 27.000 tỉ đồng, tăng hơn 19% so với năm 2003. Trong cơ cấu phát triển du lịch của tỉnh Lâm Đồng, bên cạnh trung tâm du lịch Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như thác Damb'ri, thác Bảy Tầng, thác Dasara, thác Đạ Tẻh, hồ Nam Phương, khí hậu mát mẻ đặc trưng của vùng cao nguyên cùng bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại địa phương trong nhiều năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, tỷ trọng đóng góp của du lịch trong cơ cấu kinh tế thị xã còn ở mức thấp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nội dung chính:

  1. Củng cố các kiến thức lý luận đã học, kết hợp vận dụng kiến thức chuyên ngành vào giải quyết các vấn đề thực tiễn kinh tế - xã hội tại địa phương.
  2. Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch của thị xã Bảo Lộc bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
  3. Đưa ra một số phương hướng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch của thị xã Bảo Lộc đến năm 2010.

Để đạt được các mục tiêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định cơ sở khoa học của việc đánh giá tài nguyên du lịch.
  2. Khảo sát, đánh giá các loại tài nguyên du lịch của thị xã Bảo Lộc.
  3. Định hướng khai thác các tài nguyên du lịch nhằm phục vụ mục đích phát triển du lịch thị xã Bảo Lộc đến năm 2010.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn và thực trạng hoạt động kinh doanh, hạ tầng du lịch trên địa bàn.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thị xã Bảo Lộc và các vùng phụ cận thuộc tỉnh Lâm Đồng.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập, phân tích chuỗi dữ liệu và số liệu thống kê giai đoạn 1990 - 2004, xây dựng định hướng phát triển đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành địa lý du lịch và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam:

  • Khái niệm du lịch và tài nguyên du lịch: Tiếp cận định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Thế giới (WTO); áp dụng định nghĩa tài nguyên du lịch theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999), coi tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn và công trình lao động sáng tạo của con người tạo nên sức hấp dẫn du lịch.
  • Hệ thống phân vị tổ chức lãnh thổ du lịch: Khóa luận chuẩn hóa khái niệm về Điểm du lịch (cấp phân vị cơ sở, gồm 4 nhóm: điểm phụ thuộc nhân tố thiên nhiên, điểm phụ thuộc nhân tố nhân văn, điểm dựa trên nhân tố kinh tế - chính trị, điểm dựa trên yếu tố giao thông vận tải; 5 nguyên tắc quy hoạch và quy trình quy hoạch 7 bước); Cụm du lịch / Trung tâm du lịch; Vùng du lịch (cấp cao nhất trong hệ thống đơn vị tổ chức lãnh thổ); và Tuyến du lịch (tuyến nội vùng, liên vùng; cự ly dưới 150 km cho tuyến ngắn ngày và trên 150 km cho tuyến dài ngày từ 3 ngày trở lên).
  • Khái niệm khách du lịch quốc tế: Trích dẫn các định nghĩa của Ủy ban Thống kê Liên Hiệp Quốc tại Hội nghị Rome (1963), Tuyên bố La Haye (1989) và khuyến nghị phân nhóm mục đích chuyến đi của WTO.
  • Tiêu chuẩn di tích lịch sử - văn hóa: Dựa trên Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh ngày 04/04/1984 và Công ước Di sản Thế giới của UNESCO.
  • Lịch sử nghiên cứu: Kế thừa các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái và tài nguyên du lịch của Hội Du lịch sinh thái (1992-1993), Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP (1997), WTO (1994), PATA (1993), Burns và Holden (1995), Cater (1993), Glaser (1996), Wright (1993).

Về phương pháp luận, tác giả quán triệt 6 quan điểm nghiên cứu địa lý cơ bản:

  1. Quan điểm hệ thống - lãnh thổ.
  2. Quan điểm tổng hợp.
  3. Quan điểm môi trường sinh thái.
  4. Quan điểm lịch sử viễn cảnh.
  5. Quan điểm phát sinh.
  6. Quan điểm phát triển du lịch bền vững.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  • Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát trực tiếp tại các điểm danh thắng, làm việc với các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp du lịch tại thị xã Bảo Lộc và tỉnh Lâm Đồng.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê so sánh: Xử lý chuỗi số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê thị xã Bảo Lộc giai đoạn 1999 - 2003 và các báo cáo của tỉnh.
  • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Trực quan hóa cấu trúc hành chính, vị trí địa lý và các chỉ tiêu khí hậu, kinh tế - xã hội.
  • Phương pháp chuyên gia: Tiếp thu ý kiến chỉ dẫn chuyên môn từ người hướng dẫn khoa học và cán bộ quản lý du lịch địa phương.

Quy trình nghiên cứu gồm 3 bước: (1) Xác định đề tài và lập đề cương sơ lược; (2) Sưu tầm tài liệu, khảo sát thực tế, lập đề cương chi tiết; (3) Xử lý số liệu thô, biên soạn bản thảo và hoàn thiện văn bản.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu tài nguyên du lịch

Chương I hệ thống hóa toàn diện các khái niệm nền tảng về du lịch, tài nguyên du lịch (TNDL) và các đơn vị tổ chức không gian du lịch. Tác giả phân tích rõ vai trò của TNDL như một yếu tố tiền đề, quyết định quy mô, tính mùa vụ, nhịp điệu dòng khách và sự hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù. Khóa luận phân loại TNDL thành hai nhóm lớn:

  1. Tài nguyên du lịch tự nhiên: Gồm địa hình (đồi núi, thung lũng, hang động karst, cảnh quan đồng bằng, ven biển); khí hậu (nhiệt độ, nắng, mưa tác động trực tiếp đến tính mùa vụ); tài nguyên nước (mặt nước sông, suối, hồ, nước khoáng y học); và tài nguyên động thực vật (sinh thái rừng nhiệt đới, khu bảo tồn).
  2. Tài nguyên du lịch nhân văn: Gồm di tích lịch sử - văn hóa khảo cổ (di tích dân tộc học, di tích sự kiện chính trị, di tích chiến công chống ngoại xâm, tượng đài lãnh tụ, di tích kiến trúc nghệ thuật); danh lam thắng cảnh; lễ hội truyền thống; bản sắc phong tục tập quán dân tộc học và các công trình văn hóa - thể thao, cơ sở nghiên cứu khoa học.

Phần cuối chương tổng kết thực trạng du lịch toàn cầu giai đoạn 1995 - 2000 (tăng trưởng 7,4% năm 2000 với 698 triệu khách quốc tế, doanh thu 476 tỷ USD; tác động suy giảm tạm thời sau sự kiện 11/09/2001 và dự báo đến năm 2020 đạt 1,6 tỷ lượt khách, thu nhập 2.000 tỷ USD). Đối với Việt Nam, tác giả tổng kết giai đoạn đổi mới: năm 2000 đạt trên 2 triệu lượt khách quốc tế, 11 triệu lượt khách nội địa; năm 2004 đạt doanh thu 27.000 tỉ đồng, gần 3 triệu khách quốc tế, 14 triệu khách nội địa; thu hút 13 dự án FDI với 62 triệu USD vốn đăng ký và tiếp nhận các chương trình tài trợ ODA từ EU, ADB, Luxembourg.

Chương II: Tài nguyên du lịch và hiện trạng phát triển du lịch thị xã Bảo Lộc

Chương II đi sâu khảo sát điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chi tiết tiềm năng TNDL tại địa bàn nghiên cứu:

  • Lịch sử hình thành và địa giới hành chính: Vùng đất B'Lao được bác sĩ Alexandre Yersin thám hiểm năm 1893; hình thành tỉnh Đồng Nai Thượng năm 1899; mở Quốc lộ 20 năm 1932; đổi tên thành tỉnh Lâm Đồng năm 1958. Sau giải phóng 28/03/1975, huyện Bảo Lộc được chia tách thành thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm theo Nghị định 65/CP ngày 11/07/1994. Đến năm 1999 (chia tách xã Lộc Châu và Đại Lào), thị xã có 11 đơn vị hành chính (6 phường: 1, 2, B'Lao, Lộc Sơn, Lộc Tiến, Lộc Phát; 5 xã: Lộc Thanh, Lộc Nga, Lộc Châu, Đại Lào, Damb'ri) với tổng diện tích 23.237,9 ha (nội thị 1.075 ha).
  • Điều kiện tự nhiên và khí hậu: Nằm ở độ cao trung bình 850m, địa hình đồi lượn sóng thoải, đất bazan nâu vàng; nhiệt độ trung bình năm 21,1°C (dao động 19 - 22°C, cao nhất 29,9°C, thấp nhất 15°C); lượng mưa trung bình năm 2.513 - 2.514 mm (tập trung vào tháng 7, 8, 9); độ ẩm trung bình 80 - 85%; bốc hơi trung bình 83,7 mm; số ngày nắng 180 - 190 ngày/năm; hầu như không có bão lũ; mực nước ngầm sâu 7 - 10m.
  • Hiện trạng kinh tế - xã hội giai đoạn 1994 - 2003: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 10,6%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 4,58 triệu đồng/năm; tổng vốn đầu tư đạt 659,6 tỷ đồng; thu ngân sách đạt 140 tỷ đồng (tỷ lệ huy động 21,3% GDP). Năng lực công nghiệp chế biến tập trung vào chè (25 nhà máy, 124 cơ sở cá thể, công suất 125.000 tấn chè búp tươi), tơ lụa (9 nhà máy, 18 cơ sở, 400 tấn tơ tự động, 500 tấn tơ cơ khí, 1.300 tấn sợi cotton, trên 5.000 mét vải lụa) và cà phê tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. 10/11 xã phường đạt chuẩn phổ cập THCS; mạng lưới y tế đạt 24,5 y bác sĩ/vạn dân; viễn thông đạt 1.120 máy điện thoại/vạn dân; phủ sóng truyền hình đạt 95% hộ.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên:
    • Hệ thống thác nước: Thác Damb'ri (cách trung tâm 12 km), thác Bảy Tầng (thượng nguồn suối Đạ Huoai tại Lộc Thành - Bảo Lâm, dài 2 km), thác Li Liang (thượng nguồn Đạ Trou tại Gung Ré - Di Linh, cao 30m), thác Minh Thuận (thượng nguồn K'longfun, cao 20m), thác Mơ, thác Ba Cô.
    • Hệ thống hồ: Hồ Nam Phương (80 ha tại nông trường Konhinda), hồ Tân Rai (120 ha tại Lộc Thắng, có đảo rộng 11 ha), hồ thủy điện Hàm Thuận (1.800 ha trên sông Đa Dâng/Dar'nga dọc tuyến Bảo Lộc - Đa Mi), hồ Đạ Tẻh (300 ha).
    • Tài nguyên rừng và sinh vật: Diện tích đất lâm nghiệp 4.017 ha (tập trung tại Đại Lào - Lộc Châu, diện tích có rừng 1.624 ha, đất chưa có rừng 2.393 ha, trữ lượng gỗ khoảng 200.000 m³). Rừng có nhiều loài phong lan quý (Thanh lan, Hoàng lan, Hồng lan, Thủy tiên, Lan gấm, Lan sứa, Lan hài) và hệ động vật hoang dã (heo rừng, khỉ, nhím, cá sấu, cu gáy, gõ kiến).
    • Mạng lưới thủy văn: Mật độ sông suối 0,1 km/km², bao gồm sông Dar'nga và các phụ lưu suối DarseDong, DamDrong, Dabrian.
  • Đánh giá thực trạng phát triển du lịch: Hệ thống hóa số liệu về cơ sở kinh doanh thương mại - khách sạn - nhà hàng, lực lượng lao động, doanh thu và lượng khách qua các bảng thống kê 2.4 đến 2.12; phân tích những hạn chế về quy mô đầu tư và cơ sở hạ tầng dịch vụ.
Chỉ tiêu tự nhiên và kinh tế - xã hội Giá trị thống kê trong văn bản
Diện tích tự nhiên toàn thị xã 23.237,9 ha (nội thị: 1.075 ha)
Đơn vị hành chính 11 đơn vị (6 phường, 5 xã)
Độ cao địa hình trung bình 850 m
Nhiệt độ trung bình năm 21,1°C (biên độ dao động 19 - 22°C)
Lượng mưa trung bình năm 2.513 - 2.514 mm
Tốc độ tăng trưởng GDP (1994 - 2003) 10,6%/năm
GDP bình quân đầu người 4,58 triệu đồng/người/năm
Thu ngân sách trên địa bàn 140 tỷ đồng (chiếm 21,3% GDP)
Diện tích đất lâm nghiệp 4.017 ha (rừng có cây: 1.624 ha)
Năng lực chế biến ngành chè 25 nhà máy, 124 cơ sở (125.000 tấn/năm)
Năng lực ngành tơ lụa 9 nhà máy, 18 cơ sở (400 tấn tơ tự động)

Chương III: Những định hướng phát triển thị xã Bảo Lộc

Chương III xác định các căn cứ quy hoạch dựa trên chuỗi dự báo tăng trưởng GDP du lịch, lượng khách, doanh thu và nhu cầu lao động của tỉnh Lâm Đồng cũng như thị xã Bảo Lộc đến năm 2010 (Bảng 3.1 - 3.5). Tác giả đề xuất các định hướng cụ thể:

  1. Định hướng phát triển theo ngành: Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm du lịch sinh thái rừng - thác - hồ, du lịch nghỉ dưỡng khí hậu, du lịch văn hóa buôn làng dân tộc thiểu số và du lịch tham quan vùng chuyên canh nông nghiệp công nghệ cao kết hợp làng nghề công nghiệp chế biến chè, cà phê, ươm tơ dệt lụa.
  2. Định hướng tổ chức không gian theo lãnh thổ: Tận dụng trục giao thông huyết mạch Quốc lộ 20 (kết nối TP. Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bảo Lộc - Đà Lạt) và Quốc lộ 55 (kết nối Bảo Lộc với Phan Thiết - Nam Trung Bộ qua công trình Hàm Thuận - Đa Mi); quy hoạch cụm du lịch Bảo Lộc liên kết với các điểm phụ cận thuộc huyện Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Huoai, Đạ Tẻh; tập trung hoàn thiện khu du lịch trọng điểm Damb'ri và cảnh quan hồ Nam Phương.
  3. Hệ thống giải pháp và kiến nghị thực hiện: Nâng cấp hạ tầng giao thông và cơ sở lưu trú; huy động nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách; đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành cho đội ngũ lao động du lịch; tăng cường công tác xúc tiến quảng bá và ban hành chính sách quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt tài nguyên rừng, nguồn nước mặt nhằm đảm bảo phát triển bền vững môi trường sinh thái.

Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả, khóa luận đã đạt được các nội dung cụ thể:

  • Thu thập, chuẩn hóa và tổng hợp bức tranh toàn cảnh về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và các chỉ số kinh tế - xã hội của thị xã Bảo Lộc sau 10 năm thành lập (1994 - 2004), thể hiện chi tiết qua hệ thống 17 bảng biểu thống kê và số liệu khí tượng thủy văn.
  • Kiểm kê cụ thể hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên đặc trưng của địa phương gồm 6 thác nước, 4 hồ chứa lớn, 4.017 ha đất lâm nghiệp với các nguồn gen phong lan quý, cùng các lợi thế về khí hậu ôn hòa (nhiệt độ 21,1°C) và cảnh quan nông nghiệp chè - cà phê - dâu tằm.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ quy hoạch không gian lãnh thổ, phát triển sản phẩm du lịch ngành nghề đến giải pháp về cơ chế chính sách, đào tạo nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường sinh thái.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả khẳng định đây là một trong những công trình chuyên biệt đầu tiên ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp tiến hành nghiên cứu, khảo sát và đánh giá toàn diện tài nguyên du lịch thị xã Bảo Lộc dưới góc độ địa lý học. Nghiên cứu đã khắc phục khoảng trống của các tài liệu trước đó (vốn chỉ đánh giá khái quát du lịch Bảo Lộc lồng ghép trong bức tranh kinh tế chung của tỉnh Lâm Đồng mà chưa có công trình khảo sát chuyên sâu, toàn diện trên phạm vi thị xã).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do giới hạn về thời gian thực hiện của sinh viên và sự khan hiếm nguồn tài liệu xuất bản chuyên khảo riêng về du lịch thị xã Bảo Lộc, đề tài chủ yếu dừng lại ở mức phân tích, đánh giá bước đầu từ số liệu thống kê thứ cấp và khảo sát thực địa sơ bộ. Bản đồ chuyên đề chi tiết cho từng điểm du lịch chưa được thể hiện nhiều do diện tích nhỏ và địa phương đang trong giai đoạn quy hoạch.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát định lượng nhu cầu của các phân khúc khách du lịch thực tế đến Bảo Lộc; ứng dụng công nghệ bản đồ số (GIS) để xây dựng bản đồ phân bố không gian chi tiết các tuyến điểm du lịch; nghiên cứu đánh giá sức chứa du lịch tại các khu vực nhạy cảm sinh thái (khu vực thác Damb'ri, hồ Nam Phương) và lượng hóa hiệu quả kinh tế - môi trường của các dự án đầu tư cụ thể sau năm 2005.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Địa lý, Địa lý Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Kinh tế phát triển: Cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm mẫu mực về phương pháp tiếp cận tổ chức lãnh thổ du lịch cấp huyện/thị xã theo trường phái địa lý kinh tế - xã hội.
  • Cán bộ nghiên cứu, quy hoạch phát triển địa phương: Tham khảo phương pháp phân loại, tiêu chí đánh giá tài nguyên du lịch (Chương I); chuỗi số liệu lịch sử về khí hậu, thủy văn, hiện trạng kinh tế - xã hội và tài nguyên tự nhiên của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 1994 - 2004 (Chương II); cùng các định hướng liên kết không gian vùng giữa Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ (Chương III).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các căn cứ pháp lý và định nghĩa nào tại Việt Nam để làm rõ khái niệm tài nguyên du lịch và di tích lịch sử - văn hóa?
Tác giả trích dẫn trực tiếp định nghĩa tài nguyên du lịch theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999) và khái niệm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh ban hành ngày 04/04/1984.

2. Vị trí địa lý và hạ tầng giao thông mang lại cho thị xã Bảo Lộc những lợi thế kết nối du lịch nào?
Bảo Lộc nằm trên Quốc lộ 20 (dài 25 km qua thị xã), cách TP. Hồ Chí Minh 200 km, cách Đà Lạt 115 km, cách sân bay Liên Khương 90 km. Đồng thời, công trình thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi hoàn thành năm 2000 đã bổ sung tuyến Quốc lộ 55 nối Bảo Lộc với Phan Thiết (200 km), giúp thị xã trở thành trạm dừng chân và cửa ngõ giao thương, kết nối du lịch giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cao nguyên Di Linh - B'Lao và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

3. Khóa luận đã kiểm kê những thắng cảnh hồ và thác nước tiêu biểu nào trên địa bàn Bảo Lộc và vùng phụ cận?
Về thác nước có: thác Damb'ri (cách trung tâm 12 km), thác Bảy Tầng (thượng nguồn suối Đạ Huoai, dài 2 km), thác Li Liang (cao 30m tại Gung Ré - Di Linh), thác Minh Thuận (cao 20m), thác Mơ, thác Ba Cô. Về hồ có: hồ Nam Phương (80 ha), hồ Tân Rai (120 ha tại Lộc Thắng, có đảo 11 ha), hồ thủy điện Hàm Thuận (1.800 ha trên sông Dar'nga) và hồ Đạ Tẻh (300 ha).

4. Tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu địa lý cụ thể nào trong quá trình thực hiện đề tài?
Tác giả áp dụng 4 phương pháp chính: phương pháp điều tra thực địa (khảo sát thực tế điểm du lịch, thu thập tư liệu cơ quan ban ngành); phương pháp phân tích tổng hợp - thống kê so sánh; phương pháp bản đồ - biểu đồ; và phương pháp chuyên gia (tham vấn người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Xuân Hậu và cán bộ chuyên trách du lịch).

5. Hiện trạng năng lực công nghiệp chế biến nông sản - dệt may của Bảo Lộc hỗ trợ phát triển du lịch làng nghề ra sao?
Giai đoạn 1994 - 2003, thị xã sở hữu 25 nhà máy và 124 cơ sở chế biến chè (công suất 125.000 tấn búp tươi); ngành tơ lụa có 9 nhà máy và 18 cơ sở (công suất 400 tấn tơ tự động, 500 tấn tơ cơ khí, 1.300 tấn sợi cotton, 5.000m vải lụa) cùng các nhà máy chế biến cà phê tại KCN Lộc Sơn. Đây là nguồn lực cơ sở vật chất quan trọng để hình thành các tour du lịch tham quan quy trình sản xuất, làng nghề và mua sắm sản phẩm đặc sản địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Bảo Linh đã hệ thống hóa vững chắc cơ sở lý luận về phân vị tổ chức lãnh thổ du lịch và tiến hành kiểm kê, đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như nhân văn của thị xã Bảo Lộc. Công trình phản ánh trung thực thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng du lịch của địa phương trong giai đoạn 1994 - 2004 thông qua hệ thống số liệu thống kê chi tiết. Các định hướng quy hoạch và giải pháp đề xuất đến năm 2010 trong luận văn mang tính khoa học, cung cấp nguồn dữ liệu lịch sử và tài liệu tham khảo học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu địa lý kinh tế - du lịch tại vùng Nam Tây Nguyên.