mở đầu với việc chi ra được mỗi quan hệ biện chứng giữa quy luật cung - cầu trong hệ thống lưu thông nhiên liệu dau mỏ, với lợi ích về mặt ngoại giao giữa các chủ thé quan hệ quốc tế. Khi đã có cho mình nguồn dữ liệu nhất định. bài viết sẽ bat đầu khai thác những nội dung liên quan trực tiếp đến dé tài nghiên cứu, đó là thực trạng môi quan hệ dau mỏ giữa Nga và các chủ thé có liên quan (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) đến cuộc xung đột Nga — Ukraine, như Hoa Kỳ, Ukraine, Châu Âu, khu vực Trung Đông. Song song với đó, các lệnh trừng phạt đa lĩnh vực nhắm thăng vào Nga cũng sẽ được khai thác trong nội dung của chương này, nhằm chứng minh vai trò bọc lót của Hoa Kỳ và sự chi phối ma Hoa Ky áp đặt lên Liên hợp quốc.
Tir đó, chúng ta sẽ nN k2 phân tích được thái độ của Nga trước các hành động cô lập quốc tế. Hơn hết, phản ứng từ phía Nga sẽ phan nao giải đáp những câu hỏi về các nguồn cung ứng dau mỏ, khí đốt dir phòng cho các quốc gia Châu Âu, một khi đã chấp nhận con đường quay lưng với Nga. Tham chí, chương 2 còn giúp cho chúng ta xác định rõ nét hơn thuận lợi và khó khăn của các chủ thé quan hệ quốc tế trong tro choi năng lượng nay. Vai trỏ chi phối của Hoa Kỳ đối với các nước đồng minh cũng là một nguyên tổ đáng lưu tâm.
TRIEN VỌNG CUA QUAN HỆ DAU MO XOAY QUANH XUNG DOT VU TRANG NGA - UKRAINE NHUNG NAM TIẾP THEO Trong chương nay, tác giả sẽ tập trung phân tích, định hướng nhằm dé đạt mục tiêu và phương hướng giải quyết van dé dau mỏ cho các chủ thê chịu ảnh hưởng xung đột. Những phân tích của tác giả sẽ dựa vào thực tế thời sự về quan hệ dầu mỏ trong vả ngoài cuộc xung đột Nga — Ukraine, và sẽ được nhận định theo các quy tắc của chủ nghĩa hiện thực. Các luận điểm được phân tích sẽ sắp xếp theo trình tự chủ thé khoa học. Ngoài ra, những kết luận được rút ra còn đóng vai trò quan trong trong việc nhận định tình hình, triển vọng của chính trị đầu mỏ trên trường quốc tế những năm tiếp theo.
Các chủ thê ngoại vi như Trung Quốc, OPEC và Án Độ sẽ được tác giả đề cập đến với vai trò tác động vào ảnh hưởng đến công nghiệp năng lượng thế giới. NHẬN THUC CHUNG VE DAU MO VA THUC TRANG QUAN HE DAU MO TREN THE GIOI 1. Nhận thức chung về dầu mỏ 1. Định nghĩa về năng lượng dầu mỏ Trong thời điểm hiện nay, ngành công nghiệp dầu mỏ, khí đốt đã đạt những bước phát triển rực rỡ, đồng bộ và hoàn chỉnh ở Việt Nam nói riêng va toàn thé giới nói chung.
Dầu khí trở thành nguồn nhiên liệu không thé thiểu cho các ngành kinh tế chú đạo của mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Dù vậy, vẫn còn nhiều người chưa thật sự hiểu rõ, vẫn còn rất chật vật trước những câu hỏi phô thông về nguồn nhiên liệu này.1 sẽ giúp quý độc giá hình dung rõ nét hơn những sự thật thú vị về năng lượng dầu mỏ. Khái niệm và cách điều ché* Theo khoa học, dầu mỏ là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục. Dâu mỏ tồn tại trong các lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái đất.
Day là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thé long đậm đặc, phan lớn là những hợp chất của hydrocarbon, thuộc gốc alkane, thành phần rất đa dạng, thường được tỉnh chế thành nhiều loại nhiên liệu như đầu hỏa, dau diesel. Danh pháp khí thiên nhiên (còn gọi là khí gas, khí dét) là hỗn hợp chất khí cháy được, bao gồm phân lớn hydrocarbon. Cùng với than đá, dầu mỏ và các khí khác, khí thiên nhiên là nhiên liệu hóa thạch. Danh pháp dầu khí được dùng đẻ chi cả dau thô chưa chế biển và sản pham đầu mỏ được tạo thành từ tỉnh dầu thô.
Dau khí tồn tại ở thé khi, lỏng, rắn hoặc nửa ran trong trang thái tự nhiên, ké cả sulfur và các chất tương tự khác kèm theo hydrocarbon nhưng không ké than, đá phiến sét, bitumen hoặc các khoáng sản khác có thê chiết xuất được dầu. * pai với một dé tài nghiên cứu khoa học thuộc chuyên ngành Lịch sử, tác giả xin phép chi dé cập đến những kiên thức khoa học tự nhiên mang tính phô thông về dâu khí, không đi quá cụ thê vào tính chất hóa học, vật lý và sinh học của chúng. 24 Hiện nay vẫn có nhiều lý thuyết kiến giải về sự hình thành của dầu mỏ, nhưng tựu trung lại thành hai luông lý thuyết chính: - Thuyết hữu cơ: đầu được hình thành sau khi có một SỐ lượng lớn các sinh vật chết, thường là động vật phủ du va tảo. Xác sinh vật dưới biển hay trên đất liền khi bị chôn vùi dưới những lớp đất đá, trầm tích dày và trong điều kiện thiểu oxygen, với nhiệt độ va áp suất thích hợp.
sẽ biến thành những chất sáp nhờn va sau đó trở thành đầu thô. Thuyết này được nhiều nhà địa chất ủng hộ. - Thuyết vô cơ: dầu phát sinh từ phản ứng hóa học giữa carbide kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng trái đất tạo thành các hydrocarbon và sau đó bị đây lên trên, hay khả năng xuất hiện hydrocarbide trong đới magma nằm trong dòng phun xuất và tro của núi lửa, hoặc sự hiện điện các khí hydrocarbide hoà tan trong magma nóng chảy. Ngoài ra, năm 2003, xuất hiện thuyết tạo đầu thứ ba gọi là Thuyết hạt nhân, được đăng trên tạp chí khoa học Scientific American, cho rằng các hợp chất hydrocarbon được tạo ra bởi những phản ứng hạt nhân trong lòng Trái đất.
Vẻ điều chế, các thành phan dau mỏ được tách ra bằng cách sử dụng một kỹ thuật được gọi là chưng cất phân đoạn, tức lả tách hỗn hợp chất lỏng thành các chat khác nhau ở điểm sôi tương ứng của chat đó bằng phương pháp chưng cat, thường sử dụng cột phân đoạn, bao gồm hydrocarbon của các trọng lượng phân tử khác nhau và hợp chất hữu cơ khác. Dau mỏ chủ yếu được thu hồi bằng khoan dau. Công tác khoan dầu được thực hiện sau khi các nghiên cứu về địa chat cau trúc, phân tích lưu vực trầm tích và đặc tính hồ chứa được hoàn thành. Dầu được tinh chế và tách biệt thành nhiều sản pham tiêu dùng, từ xăng, đầu hóa cho đến nhựa đường va hóa chất, thuốc thử được sử dung để sản xuất nhựa và duoc phâm.
Dầu cũng được sử dụng trong sản xuất nhiều loại vật liệu. Các đơn vị khoa học của dầu mỏ Hiện nay, việc đo sản lượng dầu được sử dụng theo hai đơn vị: 25 - Tan, là đơn vị đo theo trọng lượng. - Thùng (barrel - bbl), là đơn vị do trong thương mai, giao địch toàn cầu. Thé tích của một thùng dau thô là 158,97 liters (theo đơn vị đo Hoa Ky’).
Phụ thuộc vào ty trọng của dầu ở mỗi mỏ ma quy đổi thùng ra tan và ngược lại. Mỗi tan dau dao động trong khoảng khoảng 7 đến 8 thùng, phụ thuộc vào tỷ trong của dau. Việc xác định công thức định giá các loại dầu thô hiện nay dựa trên giá của các loại dau thô chuẩn: - Dâu Brent làm chuẩn định gia cho dâu mỏ sản xuất ở châu Au, chau Phi và dau mỏ khai thác ở phía Tây của khu vực Trung Đông. - Dầu West Texas Intermediate làm chuẩn định giá cho dau mỏ Bắc Mỹ.
- Dầu Dubai làm chuẩn định giá cho khu vực Châu A - Thái Bình Dương. - Dâu Tapis làm chuẩn tham chiều cho dau mỏ nhẹ Viễn Đông. - Dầu Minas làm chuẩn tham chiếu cho dầu mỏ nặng Vién Đông. Mặt trái của dầu mỏ O góc nhìn môi trường, những lo ngại về nguy cơ cạn kiệt nhiên liệu dau mỏ đo trữ lượng hữu hạn của Trái đất va tác động đối với xã hội phụ thuộc vao nó, lả một khát niệm được gọi là “đâu cao điềm ”.
Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chăng hạn như dau mỏ, sé gây ra có tác động tiêu cực đến sinh quyên của Trái đất, làm tôn hại hệ sinh thai thông qua các sự kiện tràn dầu, chảy dầu và giải phóng một loạt các chất gây ô nhiễm vào không khí, mặt đất, tang ozone. ? Đơn vị thùng của Anh và Hoa Ky có thé tích chênh lệch nhau. 1 thùng (US bbl) tương ứng với khoảng 159 liters theo quy đổi chat long Hoa Kỳ, và 1 thùng (UK bbl) xap xi 164 liters theo quy đôi chat lòng/chất khô Anh. 26 Những sự cô về dầu còn giải phóng các hợp chất độc hại là sulfur dioxide từ tạp chất lưu huỳnh trong nhiên liệu hóa thạch.
Việc đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng một vai trò quyết định cho hiện tượng am lên toàn cầu. Khái quát lịch sử ngành công nghiệp dầu mỏ Dầu mỏ, với tính chất hóa học nhẹ hơn nước nên xuất hiện lộ thiên ở nhiều khu vực trên thé giới, vì thế. loải người đã tìm thay được nguồn nhiên liệu này từ thời cô đại, đưới những hỗn hợp khác nhau!?. Hơn 4000 năm trước, nhựa đường đã được sử dụng để xây dựng các bức tưởng và tháp của Babylon.
Có những hỗ dầu gan Ardericca, và một mỏ dau trên Zacynthus'*, (Redwood, T. Còn rất nhiều dau tích của việc khai thác đầu mỏ được tim thấy ở Trung Quốc. Theo Kinh Dich”, dau ở trang thái thô không qua tỉnh chế, lan đầu tiên được phát hiện, chiết xuất và sử dụng ở Trung Quốc vào thé kỷ thứ nhất trước Công nguyên (BCN). Ngoài ra, người Trung Quốc cũng là những người dau tiên ghi lại việc sử dụng dau mỏ làm nhiên liệu.
Đến năm 347, dâu được sản xuất từ các giếng khoan bằng tre ở Trung Quốc!Ê, (Dalvi, S. Ở thời kỳ nay, dan cư bản địa Trung Quốc chủ yếu khai thác dau mỏ dé sử dụng trong việc sản xuất mudi ăn, khi đó, người ta ding dau mỏ để đốt làm bay hơi nước biên trong các ruộng mudi. Khu vực Trung Đông cũng đã làm quen với văn minh dau khí vào thé kỷ thứ VIII, nơi mà các thùng dầu được bày bán trên những con phố sam uất của Baghdad, lraq ngày nay. !® Bao gồm dau thô, bitumen, asphalt (nhựa đường).
t1 Nguyên văn: More than 4000 years ago, asphalt was used in the construction of the walls and towers of Babylon, there were oil pits near Ardericca, and a pitch spring on Zacynthus. 33 Kinh Dịch, một trong “Nga kink” của Trung Quốc, là tác phẩm kinh điển về văn hóa, triết học và lịch sử. ! Nguyên văn: By 347, oil was produced from bamboo-drilled wells in China.