mở đầu những trang sử vẻ vang của mối quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam, đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào. Mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân hai nước Lào-Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, dày công vun đắp đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong tiến trình lịch sử, đã trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của hai nước trên con đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930-1945), hai nước có hoàn cảnh lịch sử tương đồng, cùng mục tiêu và khát vọng độc lập, tự do, con đường giải phóng của dân tộc Việt Nam theo đường lối cách mạng vô sản cũng là con đường phù hợp để giải phóng dân tộc Lào khỏi ách nô lệ. Trong giai đoạn này, nhiều người con ưu tú của nhân dân Lào đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đây chính là những “hạt giống đỏ” để từng bước xúc tiến thành lập Xứ bộ Ai Lao của Đảng Cộng sản Đông Dương, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Lào.
Từ ngày 6/9 đến 9/9/1934, Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao tại Lào đã được thành lập. Trên các chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quyết định quan trọng nhằm thắt chặt mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào và dẫn đường cho cách mạng hai nước giành thắng lợi. 14 Sự ra đời của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 2/9/1945) và Chính phủ Lào Issara (ngày 12/10/1945) là cơ sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân hai nước Lào-Việt Nam lên tầm liên minh chiến đấu. Trong kháng chiến chống ngoại xâm (1945-1975), ngay sau khi giành được chính quyền, chính phủ hai nước đã ký kết Hiệp ước tương trợ Lào-Việt Nam và Hiệp định về tổ chức liên quân Việt Nam-Lào, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác, giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Lào-Việt Nam.
Với quan điểm “Đông Dương là một chiến trường,” trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của nhân dân hai nước Lào-Việt Nam giai đoạn từ năm 1945-1975, hai nước đã liên kết, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vừa thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, vừa vì lợi ích của mỗi quốc gia. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng tôi coi hạnh phúc và thịnh vượng của anh em Lào cũng như của mình” cùng phương châm “giúp bạn là mình tự giúp mình” được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước Lào-Việt Nam lĩnh hội, tiếp tục soi rọi trong tiến trình lịch sử của hai dân tộc. Trong thời kỳ đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ, hai nước đã thành lập Liên minh chiến đấu Việt-Lào để cùng chung sức đẩy mạnh kháng chiến chống kẻ thù chung. Những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đầu tiên đã sang Lào sát cánh cùng lực lượng vũ trang Pathet Lào trong cuộc kháng chiến.
Quyết tâm, hy sinh xương máu và sự phối hợp chặt chẽ giữa những người con ưu tú của hai dân tộc đã góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến của hai nước đi đến thắng lợi vẻ vang, với việc Hiệp định Genève năm 1954 về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Theo PathetLao, từ sau năm 1954, tinh thần đoàn kết Lào-Việt Nam càng được hun đúc, tôi luyện khi hai nước hỗ trợ nhau trên các mặt trận quân sự và đối ngoại, làm thất bại âm mưu phá hoại và tiến hành chiến tranh do chủ nghĩa thực dân mới gây ra. Ngày 5/9/1962, Lào và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ hai nước. Liên minh chiến đấu của quân và dân hai nước Việt Nam-Lào ngày càng được tăng cường và dãy 15 Trường Sơn hùng vĩ với hai nửa Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây đã trở thành hình ảnh sinh động của mối quan hệ keo sơn “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” trong những năm tháng kháng chiến gian khổ nhưng đầy vinh quang, góp phần to lớn giúp nhân dân và các lực lượng vũ trang hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày 2/12/1975 tại Lào.
Bước vào thời kỳ mới xây dựng đất nước trong hòa bình và quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1975 đến nay), quan hệ hai nước chuyển từ quan hệ đoàn kết trong chiến đấu chống kẻ thù chung sang quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử quan hệ Lào-Việt Nam là việc hai nước chính thức ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, khẳng định tình đoàn kết đặc biệt trước sau như một, sự hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Đây là văn kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới, toàn diện của mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước. Từ năm 1986 hai nước cùng tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, mối quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam ngày càng được lãnh đạo hai nước chú trọng nâng lên tầm cao mới, trong điều kiện lịch sử chung của hai nước đều kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào, hai nước luôn xác định tập trung vào những lĩnh vực có thể phát huy được thế mạnh và điều kiện thuận lợi căn bản của mỗi nước, kết hợp thỏa đáng thông lệ và tập quán quốc tế với tính chất đặc biệt của quan hệ Lào-Việt Nam, có sự ưu tiên cho nhau, phù hợp với khả năng của mỗi nước. Bước sang thế kỷ XXI, đây là giai đoạn hai nước tăng cường đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trên nền tảng hai quốc gia đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới. 16 Những thành quả từ hợp tác về chính trị, đối ngoại, quốc phòng-an ninh đến hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, hợp tác giữa các địa phương, đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc xây dựng, phát triển, hội nhập khu vực và quốc tế ở mỗi nước. Có thể nói, trong từng bước tiến của hai nước, hai dân tộc hôm nay, đều có sự đóng góp tích cực của hai bên giúp cho quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam ngày càng keo sơn, bền chặt, trở thành quy luật phát triển, là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước và là tài sản chung vô giá của hai Đảng, hai dân tộc.
Từ đó có thể hiểu quan hệ Lào-Việt là: 1. Khái niệm thông tin quan hệ Lào - Việt Nam trên báo điện tử Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu thông tin quan hệ Lào - Việt Nam trên báo điện tử là những thông tin về quan hệ song phương, đa phương giữa hai nước ở các cấp độ được thể hiện qua các hình thức truyền tải thông tin khác nhau nhằm cung cấp và giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về quan hệ đối ngoại hai nước cũng như bồi đắp sự tin tưởng cho công chúng về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam do Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Chủ tịch Souphanouvong kính yêu và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cùng các thế hệ lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp, là tài sản chung vô giá của hai Đảng, hai dân tộc. Vai trò của thông tin quan hệ đối ngoại trên báo điện tử 1. Thực hiện chức năng thông tin của báo chí Trong giai đoạn hiện nay vai trò của thông tin quan hệ đối ngoại trên báo điện tử trước hết được thể hiện qua việc thực hiện chức năng thông tin của báo chí, nội dung này có thể thấy rõ qua những điểm sau đây: Một là, ngày 13/8/1950, tờ Báo Lào Isala (tự do) và Nhà in Lào Isala được thành lập, đánh dấu sự ra đời của báo chí Lào.
Theo thống kê đến năm 2020, Lào có ấn phẩm báo chí gồm 148 tờ báo, tạp chí các loại và hơn 100 đài phát thanh và truyền hình tại trung ương và địa phương. Hiện nay Lào đang đẩy mạnh số hóa hệ thống phát thanh truyền hình trên cả nước, áp dụng công nghệ, 17 thông tin vào việc sản xuất và phát hành báo chí. Trải qua 71 năm hình thành và phát triển, báo chí, truyền thông Lào đóng vai trò quan trọng, là tiếng nói, là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước Lào, tuyên truyền đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Lào đến với người dân; góp phần đắc lực đưa thông tin, hình ảnh của đất nước Lào đến với bạn bè quốc tế, khẳng định vai trò của Lào trong khu vực và trên thế giới. Trong đó vai trò của các cơ quan báo chí điện tử đã ngày càng tăng nhanh chóng hơn trong bối cảnh phát triển của khoa học công nghệ hiện đại như ngày nay.
Hai là, dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, sự quản lý của Nhà nước CHDCND Lào, công tác thông tin, truyền thông trên các cơ quan báo chí điện tử đã đóng góp rất tích cực trong việc đưa chủ trương của Đảng NDCM Lào, chính sách, pháp luật của Nhà nước CHDCND Lào đi vào cuộc sống, góp phần tạo đồng thuận trong xã hội, ý chí quyết tâm, tinh thần tự lực, tự cường và sức mạnh đoàn kết của nhân dân 50 dân tộc trên cả ba miền của nước CHDCND Lào.