Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về phân tích tình hình tài chính 1.Khái niệm về tình hình tài chính Tình hình tài chính của doanh nghiệp phản ánh nguồn lực kinh tế(tài sản) và nguồn hình thành nên tài sản(nguồn vốn), tình hình kết quả kinh doanh hay tình hình về luồng tiền luân chuyển thuờngđuợc thể hiện thông qua những số liệu trên các báo cáo tài chính. Khái niệm phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định, trên cơ sở đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh( Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình phân tích báo cáo tài chính). Theo ThS Ngô Kim Phượng cùng các cộng sự (2009) thì “ phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên BCTC để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra các quyết định và các giải pháp quản lý phù hợp” Theo cá nhân em phân tích tình hình tài chính có thể được hiểu như là quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu tài chính thông qua BCTC chúng ta có thể biết được tình hình tài chính hiện tại và quá khứ để có thể dự đoán được tiềm năng trong tương lai đồng thời phát hiện kịp thời các rủi ro có thể xảy ra và đưa ra các biện pháp giải quyết kịp thời giúp cho quá trình hoạt động có hiệu quả và xuyên suốt.
SVTH: Huỳnh Thị Kim Hằng 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Đào Nguyên Phi 1. Vai trò của việc phân tích tình hình tài chính Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình kinh doanh Tuỳ theo đối tượng sử dụng mà kết quả phân tích tài chính có ý nghĩa vai trò khác nhau.
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Do vậy, hơn ai hết, họ cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính và khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng. Đối với với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp.Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển dổi thành tiền nhanh; từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn,… Vì vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Những điều đó nhằm đảm bảo sựan toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư. Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ, họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không.Cũng như các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, nhóm người này cũng cần phải biết được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của khách hàng. SVTH: Huỳnh Thị Kim Hằng 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Đào Nguyên Phi 1. Nội dung phân tích tình hình tài chính 1.Phân tích quy mô và cấu trúc tài chính a.Phân tích biến động về quy mô và cơ cấu tài sản Chỉ tiêu sử dụng: các mục tài sản trên bảng cân đối kế toán - Đối tượng phân tích: có hai đối tượng phân tích: + Chênh lệch về giá trị các mục tài sản qua các thời kỳ + Chênh lệch về cơ cấu các mục tài sản qua các thời kỳ Phương pháp phân tích: so sánh theo chiều ngang và chiều dọc - Nội dung phân tích: + Đánh giá tình hình tăng giảm và biến động về quy mô các mục tài sản (về giá trị, tỷ trọng) qua các thời kỳ có phù hợp với phương án, phương hướng hoạt động kinh doanh hay không.
Nếu sự thay đổi này phù hợp với phương án, phương hướng hoạt động kinh doanh thì đó là một dấu hiệu tích cực, thể hiện tính chủ động trong cơ cấu tài sản. Ngược lại, nếu sự thay đổi của các mục tài sản không phù hợp thì đây là một cơ cấu tài sản thụ động, và nó cũng thường dẫn đến sự ứ đọng vốn hoặc bị chiếm dụng vốn. + Tìm hiểu sự thay đổi bất thường của một số mục tài sản hoặc sự thay đổi chủ yếu của tài sản ở những mục nào, những dấu hiệu này có hợp lý hay không. Việc hiểu này giúp cho người phân tích đánh giá được rủi ro, những thay đổi tài sản không hợp lý.
Cách tính tỷ trọng của từng bộ phận được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kì phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau: Giá trị của từng bộ phận tài x 100% Tỷ trọng từng bộ phận = Tổng số tài sản sản Sau đó đi sâu đánh giá từng chỉ tiêu Tỷ trọng tiền: Nếu tỷ trọng tiền cao sẽ giúp cho khả năng thanh toán là tốt tuy nhiên có thể ảnh hưởng đến tính hiệu quả sử dụng vốn và ngược lại nếu tỷ trọng tiền thấp có thể giúp hiệu quả sử dụng vốn tăng nhưng sẽ dẫn đến khả năng thanh thanh toán của doanh nghiệp thấp. SVTH: Huỳnh Thị Kim Hằng 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Đào Nguyên Phi Tỷ trọng HTK cao thì ưu điểm là duy trì được hoạt động sản xuất bình thường đồng thời tránh được nguy cơ cháy kho đáp ứng nhu cầu thị trường tuy nhiên nhược điểm giá trị HTK là “vốn chết” dẫn đến có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh (lãng phí vốn). Tỷ trọng phải thu: chủ yếu tập trung vào khoản phải thu khách hàng là cao thì cần phải quan tâm chính sách quản lý và thu hồi nợ có phải tốt hay không hay là do chính sách bán chịu của doanh nghiệp nhằm nhằm kích thích tiêu thụ và ngược lại. Tỷ trọng TSCĐ: Nếu cao thì phản ánh chính sách đầu tư cho tương lai là nhiều khi đó sẽ giúp đòn bẩy kinh doanh là cao tuy nhiên làm cho rủi ro kinh doanh lớn.Phân tích biến động về quy mô và cơ cấu nguồn vốn - Chỉ tiêu sử dụng: Các mục nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán.
- Đối tượng phân tích: Chênh lệch các mục nguồn vốn qua các thời kỳ. - Phương pháp phân tích: So sánh và liên hệ cân đối, điều này được thể hiện thông qua bảng kê phân tích nguồn vốn về sự biến động giá trị, tỷ trọng. + Đánh giá về cơ cấu nguồn vốn: Đánh giá tỷ lệ nợ hoặc tỷ lệ vốn sở hữu có đảm bảo tiêu chuẩn quy định trong chế độ tài chính đối với từng ngành nghề sản xuất kinh doanh hay không. + Đánh giá sự chuyển biến về giá trị, tỷ trọng của từng mục nguồn vốn xem có: Phù hợp với chế độ tự chủ tài chính.
Phù hợp với chế độ thanh toán tín dụng. Phù hợp với phương hướng sản xuất kinh doanh. Qua phân tích cơ cấu nguồn vốn các nhà quản lý nắm được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn. Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tài sản, tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định như sau: Giá trị của từng bộ phận nguồn x 100% Tỷ trọng từng bộ phận = Tổng số nguồn vốn vốn Đi sâu đánh giá cơ cấu nguồn vốn qua các chỉ tiêu sau: SVTH: Huỳnh Thị Kim Hằng 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Đào Nguyên Phi Tỷ trọng NPT (hệ số nợ): Nếu tỷ trọng của chỉ tiêu càng cao chứng tỏ đòn bẩy tài chính cao nhưng rủi ro tài chính cao và ngược lại nếu trị số chỉ tiêu thấp chứng tỏ doanh nghiệp độc lập về tài chính cao nhưng đòn bẩy tài chính thấp.
Tỷ trọng VCSH: Nếu tỷ trọng chỉ tiêu càng cao cho thấy DN độc lập về tài chính nhưng đòn bẩy tài chính thấp và ngược lại nếu chỉ tiêu thấp chứng tỏ DN rủi ro tài chính cao và đòn bẩy tài chính cao. Tỷ trọng vốn vay: Nếu tỷ trọng chỉ tiêu càng cao chứng tỏ rủi ro tài chính cao, chi phí lãi vay cao và lợi về thuế TNDN và ngược lại nếu chỉ tiêu thấp thì rủi ro thấp, chi phí lãi vay thấp,không được lợi về thuế TNDN. Tỷ trọng phải trả người bán: Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ doanh nghiệp tăng cường vốn sử dụng cho HĐKD (chếm dụng vốn), không được hưởng các khoản chiết khấu và ngược lại nếu chỉ tiêu thấp doanh nghiệp hạn chế vốn sử dụng cho HĐKD (hạn chế chiếm dụng vốn nhưng được hưởng các khoản chiết khấu. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh - Phương pháp phân tích: phương pháp so sánh, loại trừ Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có tài sản bao gồm TSCĐ và TSLĐ.
Việc đảm bảo đầy đủ nhu cầu về tài sản là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả. Để đảm bảo có đủ tài sản cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần tập trung các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình thành nguồn vốn.