Khóa luận khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.)

Khóa luận khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác Oroxylum indicum L thuộc họ chùm ớt Bignoniaceae, cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu.

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

70
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MÔ TẢ THỰC VẬT

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC TÍNH

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT THIẾT BỊ

2.2. ĐIỀU CHẾ CÁC CAO PHÂN ĐOẠN

2.3. CÔ LẬP CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ TRONG CAO ETYL AXETAT

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT OI-3

3.2. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT OI-4

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

Tóm tắt

I. Tổng quan về thành phần hóa học của lá cây núc nác

Cây núc nác, hay còn gọi là Oroxylum indicum, thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae). Lá cây núc nác chứa nhiều hợp chất hóa học có giá trị dược lý. Nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác đã chỉ ra rằng chúng có chứa nhiều flavonoid và các hợp chất khác có tác dụng bảo vệ sức khỏe. Việc khảo sát này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cây thuốc mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây núc nác

Cây núc nác có chiều cao từ 7-12m, với thân nhẵn và ít phân nhánh. Lá cây có hình dạng lông chim, dài từ 7,5-15cm. Hoa của cây có màu nâu đỏ sẫm, mọc thành chùm. Cây phân bố rộng rãi ở Việt Nam và một số nước châu Á khác.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu thành phần hóa học

Nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác giúp xác định các hợp chất có hoạt tính sinh học. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong y học cổ truyền mà còn trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thành phần hóa học

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định chính xác các hợp chất và tác dụng của chúng. Các phương pháp phân tích hiện đại như NMRHPLC cần được áp dụng để có kết quả chính xác hơn. Ngoài ra, việc bảo tồn nguồn gen và phát triển bền vững cũng là một vấn đề cần được quan tâm.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập mẫu

Việc thu thập mẫu lá cây núc nác từ các vùng khác nhau có thể dẫn đến sự khác biệt về thành phần hóa học. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có phương pháp thu thập và bảo quản mẫu hợp lý.

2.2. Thiếu thông tin về tác dụng dược lý

Mặc dù có nhiều nghiên cứu, nhưng thông tin về tác dụng dược lý của các hợp chất trong lá cây núc nác vẫn còn hạn chế. Cần có thêm các nghiên cứu lâm sàng để xác định rõ ràng hơn về hiệu quả và độ an toàn của chúng.

III. Phương pháp khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác

Để khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác, các phương pháp chiết xuất và phân tích hiện đại được áp dụng. Các hợp chất được chiết xuất bằng dung môi như etanolclorofom, sau đó phân tích bằng sắc ký lỏngphổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). Những phương pháp này giúp xác định cấu trúc và hoạt tính của các hợp chất có trong lá cây.

3.1. Quy trình chiết xuất hợp chất

Quy trình chiết xuất bao gồm việc thu hái lá cây, phơi khô, xay nhuyễn và ngâm trong dung môi. Sau đó, các hợp chất được tách ra và tinh chế để phục vụ cho việc phân tích.

3.2. Phân tích cấu trúc hóa học

Các hợp chất sau khi chiết xuất sẽ được phân tích bằng NMRHPLC để xác định cấu trúc hóa học. Phân tích này giúp hiểu rõ hơn về tính chất và hoạt tính của các hợp chất.

IV. Kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác

Kết quả nghiên cứu cho thấy lá cây núc nác chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như flavonoid, alkaloid, và tannin. Các hợp chất này đã được chứng minh có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn và bảo vệ gan. Những phát hiện này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên có lợi cho sức khỏe.

4.1. Các hợp chất chính được phát hiện

Nghiên cứu đã phát hiện ra nhiều hợp chất như baicalein, chrysin, và oroxylin A. Những hợp chất này có tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương.

4.2. Tác dụng dược lý của các hợp chất

Các hợp chất trong lá cây núc nác đã được chứng minh có tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn và bảo vệ gan. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của cây núc nác trong y học.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu về cây núc nác

Nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác đã chỉ ra rằng cây này có nhiều hợp chất có giá trị dược lý. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về tác dụng và cơ chế hoạt động của các hợp chất này. Việc phát triển các sản phẩm từ cây núc nác có thể mang lại lợi ích lớn cho sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tương lai của nghiên cứu cây núc nác

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm từ cây núc nác, đồng thời bảo tồn nguồn gen và phát triển bền vững.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần khuyến khích các nghiên cứu lâm sàng để xác định rõ hơn về hiệu quả và độ an toàn của các hợp chất trong lá cây núc nác. Điều này sẽ giúp đưa cây núc nác vào ứng dụng thực tiễn trong y học.

16/07/2025
Khóa luận khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác oroxylum indicum l họ chùm ớt bignoniaceae

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN Trang 2 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang 1. MÔ TẢ THỰC VẬT [2] - Cây núc nác có tên khoa học là Oroxylum indicum L., thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae). - Cây to cao 7-12m, có thể cao tới 20-25m, thân nhẵn, ít phân nhánh. Vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng.

Lá xẻ 2-3 lần lông chim. Lá chét hình bầu dục, nguyên, đầu nhọn, dài 7,5-15cm, rộng 5-6,5cm. Hoa màu nâu đỏ sẫm mọc thành chùm dài ở đầu cành, dài khoảng 10 cm, 5 nhị trong có có một nhị nhỏ hơn. Quả nang to, dài tới 50-80cm, rộng 5-7cm, bên trong chứa hạt, bao quanh có một màng mỏng, bóng và trong, hình chữ nhật.

- Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi nước ta, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Cây còn mọc ở Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, Lào, Campuchia. - Các tên gọi khác: + Ở Việt Nam: Núc nác, nam hoàng bá, mộc hồ điệp, mạy ca (Tày), co ca liên (Thái), p`sờ lụng (K`ho), kờ lúc (K`dong), póc ta lốp (Ba Na). + Ở Ấn Độ: Syonaka + Ở Trung Quốc: Bạch ngọc nhi, thiên trương chỉ, triểu giản.

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC TÍNH Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Oroxylum indicum chứa nhiều chất chống oxy hóa, chống ung thư, bảo vệ gan. Các tác dụng khác như tính kháng khuẩn, giảm đau và bảo vệ dạ dày của Oroxylum indicum cũng đã được báo cáo. Hoạt tính chống viêm [17, 31] Trang 3 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang Chiết xuất dung dịch nước từ lá Oroxylum indicum có khả năng chống viêm. Hoạt tính chống viêm đã được nghiên cứu trên mô hình cơ thể chuột phù chân.

Dung dịch nước chiết xuất từ lá Oroxylum indicum có hoạt tính chống viêm đáng kể ở liều lượng 150 mg/kg và 300 mg/kg trọng lượng cơ thể. Với liều lượng 300 mg/kg trọng lượng cơ thể cho thấy hoạt động chống viêm là tối đa. Thông qua những nghiên cứu chỉ ra rằng Oroxylum indicum có thể hữu ích trong điều trị bệnh viêm mạn tính như chứng viêm khớp. Hoạt tính chống độc ở gan [28] Trong y học Ấn Độ, lá Oroxylum indicum được sử dụng rộng rãi như cách phòng các rối loạn gan.

Các dịch trích khác nhau của Oroxylum indicum đều có hoạt tính chống độc gan. Các dịch trích ete dầu, clorofom, etanol và dung dịch nước được tiêm vào chuột nhiễm bệnh với liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể. Thử nghiệm cho thấy chuột được điều trị và dịch trích etanol có hiệu quả đáng kể nhất. Hoạt tính tẩy giun sán Năm 2000, Downing JE [10] đánh giá hoạt tính tẩy giun sán của Oroxylum indicum chống trứng giun lươn của ngựa trong ống nghiệm và so sánh nó với Ivermectin – một trong những thuốc tẩy giun hiệu quả.

Sử dụng Oroxylum indicum với nồng độ 2×10-5 g/mL hoặc lớn hơn ngăn chặn được quá trình nở trứng của giun lươn. Với nồng độ Oroxylum indicum 2×10-1 g/mL thì quá trình nở đạt 0%. Tại nồng độ 2×10-4 g/mL hoặc lớn hơn thì khả năng sống của trứng và ấu trùng giun lươn là 0%. Kết quả của nghiên cứu cho rằng Oroxylum indicum có thể là một chất tẩy giun thích hợp chống lại giun lươn của ngựa.

Hoạt tính chống ung thư Năm 1992, Tepsuwan A cùng các cộng sự [29] công bố hoạt tính gây độc gen và hoạt tính phát triển tế bào niêm mạc dạ dày của chuột đực F344 bằng phương pháp ngắn hạn trong cơ thể sau khi uống một phần nhỏ nitroso hóa của Oroxylum indicum Vent. Kết quả cho thấy nitroso hóa của Oroxylum indicum có tính gây độc gen và phát triển tế bào ở niêm mạc dạ dày trong cơ thể chuột. Năm 2001, Nakahara K cùng các cộng sự [21] đã báo cáo rằng chiết xuất metanol của Oroxylum indicum ức chế mạnh mẽ sự đột biến của TRP-P-1 trong một Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang thử nghiệm Ames. Thành phần chính kháng đột biến được xác định là baicalein với giá trị IC 50 là 2,78 ± 0,15 microM.

Sự kháng đột biến mạnh của chiết xuất với hàm lượng cao Baicalein (3,95 ± 0,43%, trọng lượng khô). Baicalein có tác dụng như chất giảm đột biến vì nó ức chế N-hydroxyl của TRP-P-2. Năm 2006, Narisa K cùng các cộng sự [22] đã thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào trên chiết xuất etanol 95% của Oroxylum indicum. Các hoạt động gây độc tế bào xác định bởi tác dụng chống tăng sinh dòng tế bào Hep-2.

Kết quả chiết xuất etanol biểu hiện hoạt tính động gây độc tế bào chống lại dòng tế bào Hep-2 ở nồng độ 2,5 μg/ml. Năm 2007, Roy MK cùng các cộng sự [24] chỉ ra rằng baicalein có tác dụng chống khối u trên các tế bào ung thư ở người và chiết xuất Oroxylum indicum có thể được sử dụng trong điều trị ung thư bổ sung. Hoạt tính bảo vệ dạ dày Năm 2007, Zaveri M cùng các cộng sự [34] báo cáo hoạt tính bảo vệ dạ dày của chiết xuất cồn 50% từ vỏ, rễ cây Oroxylum indicum và các phân đoạn khác: eter dầu, clorofom, etyl axetat và n-butanol. Trong đó, phân đoạn n-butanol cho sự ức chế hiệu quả tối đa đối với tổn thương dạ dày.

Năm 2010, Hari Babu T cùng các cộng sự [12] đã công bố các flavonoid trong Oroxylum indicum Vent. đã được cô lập như chrysin, baicalein, oroxylin có nhiệm vụ bảo vệ dạ dày. Hoạt tính kháng khuẩn Năm 1998, Ali R. cùng các cộng sự [5] đã nghiên cứu tác dụng của chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum chống lại các các loại nấm da và nấm thối gỗ và báo cáo hoạt tính động kháng nấm mạnh mẽ trong chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum.

Năm 2003, Kawsar U cùng các cộng sự [15] đã công bố hoạt tính động chống vi khuẩn của các chiết xuất khác nhau của Oroxylum indicum đã được sàng lọc chống lại 14 loại vi khuẩn gây bệnh (5 vi khuẩn gram dương và 9 vi khuẩn gram âm) và 7 loại nấm gây bệnh bằng cách sử dụng phương pháp khuếch tán đĩa. Nồng độ ức chế tối thiểu của hai hợp chất flavonoid được cô lập từ Oroxylum indicum Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang được xác định chống lại vi khuẩn hình que, tụ cầu khuẩn, Escherichia coli và vi khuẩn bệnh lị Shigella có giá trị khoảng 64-128 μg/ml. Đến năm 2008, một nghiên cứu của Thatoi HN cùng cộng sự [30] tiếp tục khẳng định hoạt tính kháng khuẩn bằng cách sử dụng các chủng vi khuẩn khác nhau. MỘT SỐ ĐƠN THUỐC DÂN GIAN CÓ VỊ NÚC NÁC [2,37]  Chữa viêm phế quản, ho lâu ngày: mộc hồ điệp 10g, đường phèn hay kẹo mạch nha 30g, nước 300ml, sắc còn 200ml.

Chia 3 lần uống trong ngày.  Chữa lở loét do sơn ăn: vỏ núc nác tươi (số lượng tùy theo vết loét) giã nát, thêm rượu 30-400 vào, cứ 1 phần vỏ, 3 phần rượu, ngâm khoảng 2-3giờ. Dùng rượu này bôi vào nơi lở sơn. Ngày bôi 3-4 lần.

Chỉ 2-3 ngày là khỏi.  Viêm da ngứa lở, các tổn thương bị tiết dịch có biểu hiện bội nhiễm: - Thuốc uống: nam hoàng bá (sao qua) 16g, kim ngân 16g, kinh giới 16g, phòng phong 10g, chi tử 10g, đinh lăng 16g, sài hồ 16g, xuyên khung 10g, bạch chỉ 10g, sài đất 20g, lá bưởi bung 16g, uất kim 10g, cam thảo 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước sắc còn 400ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày. - Thuốc rửa tại chỗ: nam hoàng bá 50g, lá kinh giới 30g, lá đinh lăng 30g.

Các thứ trên cho vào ấm, đổ nước nấu sôi, nhấc khỏi bếp cho nguội. Dùng nước này rửa các chỗ bị tổn thương, ngày 2 lần.  Trị bệnh sởi (bài thuốc dùng cho trẻ em): nam hoàng bá 6g, kinh giới 6g, ngân hoa 4g, lá dấp cá 5g, mã đề thảo 4g, sài đất 5g, liên kiều 4g, hoa hồng bạch 4g, sài hồ 4g, đương quy 4g, cam thảo 4g, huyền sâm 4g. Cho các vị vào ấm, đổ 2 bát nước sắc còn 1 bát, chia 3 – 4 lần uống trong ngày.

Nên kiêng gió, kiêng nước lạnh cho trẻ.  Hội chứng lỵ (đau bụng đi ngoài nhiều lần, phân có lẫn máu mũi, mùi tanh): - Nam hoàng bá 20g, hoàng liên 12g, khổ sâm 16g, cỏ sữa 20g, lá nhót 20g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, bạch truật 12g, chích thảo 12g, cỏ mực (sao đen) 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang - Nam hoàng bá 16g, búp ổi 12g, khổ sâm 16g, đinh lăng 20g, rau sam 20g, cỏ sữa 20, hoa hòe (sao đen) 16g, bạch truật (sao hoàng thổ) 12g, cây cứt lợn 16g, ngũ gia bì 16g, hoàng đằng 12g, chích thảo 12g.

Sắc uống ngày 1 thang. Kiêng chất tanh, dầu mỡ. Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC • Năm 1953, Mehta CR và Mehta TP [19] đã tách từ hạt núc nác 1 chất glucoside : Tetuin (1) HO O OH O O HO HO O OH OH Tetuin (1) • Năm 1972, Subramanian SS và Nair AGR [27] đã cô lập từ vỏ thân cây núc nác các hợp chất:  Chrysin (2)  Oroxylin A (3)  Baicalein (4)  Scutellarein (5)  Baicalein-7-O-glucuronide (6)  Scutellarein-7-O-rutinoside (7) HO O HO O H3CO OH O OH O Chrysin (2) Oroxylin A (3) Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang OH O HO O HO HO HO OH O OH O Baicalein (4) Scutellarein (5) HOOC O HO HO O O OH HO OH O Baicalein-7-O-glucuronide (6) OH O O CH3 OH OH OH O HO HO O O OH HO OH O Scutellarein-7-O-rutinoside (7) • Năm 1972, trong nghiên cứu tiếp theo, Subramanian SS and Nair AGR [26] đã cô lập từ lá núc nác được các hợp chất:  Baicalein-6-O-glucuronide (8)  Scutellarein-7-O-glucuronide (9) HO O HOOC O O HO HO O OH OH Baicalein-6-O-glucuronide (8) Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang OH HOOC O HO O HO O OH HO OH O Scutellarein-7-O-glucuronide (9) • Năm 1977, Joshi K C, Prakash A và Shah R K [14] đã cô lập từ gỗ cây núc nác 2 hợp chất:  Prunetin (10)  β-Sitosterol (11) H3CO O OH O OH Prunetin (10) CH3 CH3 CH3 H H H HO β-Sitosterol (11) • Năm 1978, Dey AK, Mukherjee A, Das PC và Chatterjee A [9] đã cô lập từ lá hợp chất: Aloe emodin (12) Trang 10 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang O HO OH O OH Aloe emodin (12) • Năm 1979, Nair AGR cùng Joshi BS [20] đã cô lập được hợp chất: Oroxindin (13) HOOC O OCH3 HO HO O O OH OH O Oroxindin (13) • Năm 1980, Grover G S cùng Rao J Tirumala [11] cũng cô lập được từ hạt hợp chất Baicalein-6-O-glucoside là tên gọi của Tetuin (1).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các cây thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của thảo dược trong y học hiện đại. Những cây thuốc này không chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị mà còn có thể cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư. Việc tìm hiểu và áp dụng các phương pháp điều trị tự nhiên từ cây thuốc có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các cây thuốc và ứng dụng của chúng trong điều trị bệnh, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Tổng quan về một số cây thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các loại cây thuốc cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đa dạng cây thuốc trong tri thức sử dụng của cộng đồng người h`mông tại huyện phong thổ tỉnh lai châu sẽ giúp bạn hiểu thêm về tri thức bản địa và cách mà cộng đồng sử dụng cây thuốc. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại huyện thạch an tỉnh cao bằng cũng là một nguồn tài liệu quý giá để khám phá thêm về các ứng dụng của cây thuốc trong điều trị bệnh.

Mỗi liên kết trên đều là cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này và mở rộng kiến thức của mình.