Khóa luận: Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại Công ty Xây dựng Hoàng Sơn

Khóa luận phân tích thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại một công ty xây dựng, kèm giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Kế toán - Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2014 - 2018

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện kế toán chi phí tính giá thành xây dựng

Kế toán trong lĩnh vực xây dựng mang những đặc thù riêng biệt, đòi hỏi sự chính xác và chi tiết cao. Khác với các ngành sản xuất khác, sản phẩm của ngành xây dựng là các công trình, hạng mục công trình cố định, có quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài qua nhiều kỳ kế toán. Do đó, công tác kế toán chi phí xây lắp và tính giá thành công trình trở thành một nhiệm vụ cốt lõi, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc tổ chức hạch toán khoa học không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật, đặc biệt là kế toán xây dựng theo thông tư 200 và Thông tư 133, mà còn cung cấp thông tin quản trị quý giá. Các nhà quản lý dựa vào số liệu chi phí để lập dự toán công trình, kiểm soát định mức chi phí xây dựng, và đưa ra các quyết định kinh doanh chiến lược. Một hệ thống kế toán chi phí hiệu quả giúp theo dõi sát sao từng khoản mục từ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp đến chi phí sản xuất chung, đảm bảo mọi hao phí đều được ghi nhận và phân bổ hợp lý, từ đó xác định chính xác giá vốn và lợi nhuận của từng hợp đồng xây dựng.

1.1. Đặc điểm ngành xây dựng ảnh hưởng đến công tác kế toán

Ngành xây dựng có những đặc điểm sản xuất kinh doanh độc đáo tác động sâu sắc đến việc tổ chức công tác kế toán. Sản phẩm xây lắp thường là đơn chiếc, có quy trình công nghệ phức tạp và thời gian thi công dài. Mỗi công trình là một đối tượng hạch toán riêng biệt, đòi hỏi việc tập hợp chi phí sản xuất phải được thực hiện theo từng công trình, hạng mục. Địa điểm thi công không cố định, thường xuyên thay đổi, dẫn đến phát sinh các chi phí quản lý tại công trường. Mối quan hệ giữa chi phí và kết quả thường không diễn ra trong một kỳ kế toán, tạo ra thách thức trong việc xác định chi phí dở dang cuối kỳ. Theo tài liệu nghiên cứu, “sản phẩm xây lắp là một trong những chỉ tiêu chất lượng quan trọng, vì nó phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định kết quả tài chính”. Chính vì vậy, việc lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí và kỳ tính giá thành phải linh hoạt, phù hợp với tiến độ nghiệm thu công trình.

1.2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành công trình

Chi phí sản xuất và giá thành công trình có mối quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí phát sinh trong một kỳ kế toán nhất định, trong khi giá thành sản phẩm là chi phí tính cho khối lượng công việc đã hoàn thành. Mối quan hệ này được thể hiện qua công thức: Giá thành = Chi phí dở dang đầu kỳ + Chi phí phát sinh trong kỳ - Chi phí dở dang cuối kỳ. Như vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành, nhưng giá thành chỉ bao gồm những chi phí liên quan đến sản phẩm hoàn thành. Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm này giúp doanh nghiệp tránh sai sót khi lập báo cáo tài chính công ty xây dựng, đảm bảo tính trung thực và hợp lý của số liệu. Quá trình này đòi hỏi sự chính xác trong việc đánh giá sản phẩm dở dang, một trong những khâu phức tạp nhất của kế toán giá thành sản phẩm xây lắp.

II. Top 3 thách thức trong kế toán giá thành sản phẩm xây lắp

Kế toán giá thành trong doanh nghiệp xây dựng phải đối mặt với nhiều thách thức đặc thù. Việc quản lý và hạch toán chi phí không hiệu quả có thể dẫn đến sai lệch trong việc xác định giá vốn, ảnh hưởng đến lợi nhuận và quyết định đấu thầu. Thách thức lớn nhất đến từ việc tập hợp chi phí sản xuất cho các công trình kéo dài, phân tán ở nhiều địa điểm. Kế toán viên phải xử lý một khối lượng lớn chứng từ từ vật tư, nhân công, máy móc, và các chi phí chung khác, đòi hỏi quy trình luân chuyển và kiểm soát chặt chẽ. Thêm vào đó, việc đánh giá và phân bổ chi phí cho sản phẩm dở dang cuối kỳ là một bài toán phức tạp. Sai sót trong khâu này sẽ làm sai lệch giá thành của cả kỳ hiện tại và các kỳ sau. Cuối cùng, sự đa dạng của các hợp đồng xây dựng và yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực, thông tư kế toán hiện hành cũng tạo ra áp lực không nhỏ, đòi hỏi nhân sự kế toán phải có chuyên môn sâu và liên tục cập nhật kiến thức. Vượt qua những thách thức này là chìa khóa để quản lý chi phí dự án thành công.

2.1. Khó khăn trong việc tập hợp chi phí sản xuất đa dạng

Một trong những khó khăn cơ bản là việc tập hợp đầy đủ và chính xác các loại chi phí phát sinh. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn, việc kiểm soát xuất-nhập-tồn tại công trường rất phức tạp. Thất thoát vật tư có thể xảy ra nếu không có quy trình giám sát chặt chẽ. Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm lương và các khoản trích theo lương cho công nhân tại công trường, việc chấm công và tính lương đòi hỏi sự phối hợp giữa bộ phận kế toán và ban chỉ huy công trường. Đặc biệt, chi phí sản xuất chung, bao gồm chi phí quản lý đội, khấu hao máy móc, chi phí điện nước... thường liên quan đến nhiều công trình cùng lúc. Do đó, việc lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để tính vào giá thành công trình là một công việc đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về hoạt động thi công.

2.2. Vấn đề đánh giá chi phí dở dang cuối kỳ phức tạp

Do thời gian thi công kéo dài, các công ty xây dựng luôn có một khối lượng sản phẩm dở dang vào cuối kỳ kế toán. Việc xác định giá trị của chi phí dở dang cuối kỳ là cực kỳ quan trọng và phức tạp. Theo tài liệu nghiên cứu, có nhiều phương pháp để đánh giá như đánh giá theo chi phí thực tế, theo chi phí dự toán, hoặc theo tỷ lệ hoàn thành. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào đặc điểm công trình và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Đánh giá không chính xác khối lượng dở dang sẽ dẫn đến việc tính toán sai lệch giá thành công trình đã hoàn thành, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh được phản ánh trên báo cáo tài chính. Đây là một khâu trọng yếu trong hạch toán kế toán xây dựng.

III. Bí quyết tập hợp chi phí sản xuất công ty xây dựng hiệu quả

Để quản lý chi phí dự án hiệu quả, việc tổ chức hệ thống tập hợp chi phí một cách khoa học là điều kiện tiên quyết. Nền tảng của công tác này là xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí, thường là từng công trình, hạng mục công trình hoặc đơn đặt hàng. Dựa trên đối tượng đã xác định, kế toán tiến hành hạch toán chi tiết các khoản mục chi phí chính. Các tài khoản chủ yếu được sử dụng bao gồm TK 621 (Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp), TK 622 (Chi phí nhân công trực tiếp), TK 623 (Chi phí sử dụng máy thi công) và TK 627 (Chi phí sản xuất chung). Cuối kỳ, toàn bộ chi phí phát sinh sẽ được kết chuyển về TK 154 (Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang) để tổng hợp và chuẩn bị cho quá trình tính giá thành. Quy trình này đòi hỏi sự nhất quán trong việc sử dụng chứng từ, từ phiếu yêu cầu vật tư, bảng chấm công, đến hóa đơn dịch vụ mua ngoài. Việc áp dụng công nghệ, đặc biệt là các phần mềm kế toán xây dựng, sẽ giúp tự động hóa quy trình, giảm thiểu sai sót và cung cấp số liệu kịp thời cho nhà quản lý.

3.1. Hạch toán kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 621

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) là toàn bộ giá trị vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện... được sử dụng trực tiếp để thi công công trình. Việc hạch toán chi phí này phải dựa trên các chứng từ hợp lệ như phiếu xuất kho, hóa đơn mua hàng. Kế toán ghi Nợ TK 621 và Có các tài khoản liên quan (TK 152, 111, 112, 331). Một điểm cần lưu ý trong ngành xây dựng là việc kiểm soát vật tư tại công trường. Cuối kỳ, cần tiến hành kiểm kê để xác định giá trị vật tư còn lại chưa sử dụng, từ đó ghi giảm chi phí NVLTT đã tập hợp. Việc bóc tách khối lượng và xây dựng định mức chi phí xây dựng chính xác từ ban đầu sẽ là cơ sở quan trọng để kiểm soát và hạch toán khoản mục chi phí này.

3.2. Quản lý và hạch toán chi phí nhân công trực tiếp TK 622

Khoản mục này bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân trực tiếp thi công. Căn cứ vào bảng chấm công, bảng thanh toán lương, kế toán tiến hành hạch toán Nợ TK 622 và Có TK 334, 338. Việc quản lý chi phí nhân công hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng kế toán và ban chỉ huy công trường để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu chấm công. Trong nhiều doanh nghiệp, việc khoán nhân công theo khối lượng công việc cũng là một phương pháp hiệu quả để kiểm soát chi phí và thúc đẩy tiến độ.

3.3. Phân bổ chi phí sản xuất chung TK 627 và máy thi công

Chi phí sản xuất chung (TK 627) và chi phí sử dụng máy thi công (TK 623) là các chi phí gián tiếp, liên quan đến nhiều đối tượng. Chúng bao gồm lương nhân viên quản lý đội, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài... Các chi phí này được tập hợp vào TK 627 và TK 623 trong kỳ. Cuối kỳ, kế toán phải lựa chọn một tiêu thức phân bổ hợp lý (ví dụ: theo chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc giờ máy hoạt động) để phân bổ vào chi phí của từng công trình. Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác của giá thành công trình.

IV. Phương pháp tính giá thành công trình xây dựng chi tiết nhất

Tính giá thành là bước cuối cùng của quy trình kế toán chi phí, nhằm tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất để xác định giá trị của sản phẩm hoàn thành. Trong ngành xây dựng, việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp có ý nghĩa quyết định đến độ chính xác của thông tin kế toán. Do đặc thù sản phẩm là đơn chiếc và thời gian thi công kéo dài, phương pháp phổ biến nhất là phương pháp giản đơn (tính giá thành theo công trình) hoặc phương pháp theo đơn đặt hàng. Quy trình bắt đầu bằng việc tập hợp tất cả chi phí phát sinh liên quan đến công trình vào tài khoản 154. Sau đó, kế toán phải xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ. Cuối cùng, giá thành thực tế của công trình hoàn thành được tính toán và kết chuyển. Kết quả này là cơ sở để ghi nhận giá vốn hàng bán, xác định lợi nhuận gộp và là căn cứ quan trọng cho việc quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư.

4.1. Lựa chọn đối tượng và phương pháp tính giá thành phù hợp

Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp thường là từng công trình, hạng mục công trình hoặc toàn bộ khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng. Việc xác định đúng đối tượng là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Tương ứng với đối tượng, doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp tính giá thành khác nhau. Phổ biến nhất là phương pháp tính giá thành theo công trình hoặc đơn đặt hàng, áp dụng khi mỗi công trình có dự toán và được theo dõi chi phí riêng. Trong một số trường hợp phức tạp hơn, khi một quy trình sản xuất tạo ra nhiều hạng mục, doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp hệ số hoặc tỷ lệ để phân bổ chi phí. Lựa chọn đúng phương pháp giúp cung cấp thông tin giá thành chính xác, phục vụ hiệu quả cho công tác quản trị.

4.2. Quy trình tính giá thành và nghiệm thu công trình xây lắp

Quy trình tính giá thành thường diễn ra khi công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành và được nghiệm thu công trình. Đầu tiên, kế toán tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh đã được tập hợp trên TK 154 cho đối tượng cần tính giá thành. Tiếp theo, tiến hành đánh giá khối lượng dở dang cuối kỳ (nếu có). Sau đó, tính tổng giá thành cho khối lượng hoàn thành bằng cách lấy tổng chi phí phát sinh cộng với dở dang đầu kỳ và trừ đi dở dang cuối kỳ. Dựa trên tổng giá thành và khối lượng hoàn thành, giá thành đơn vị (nếu cần) sẽ được xác định. Cuối cùng, kế toán thực hiện bút toán kết chuyển giá thành từ TK 154 sang các tài khoản liên quan như TK 632 (Giá vốn hàng bán) hoặc TK 155 (Thành phẩm), hoàn tất quy trình hạch toán.

V. Case study Kế toán chi phí tại một công ty xây dựng thực tế

Để minh họa cho các nguyên tắc lý thuyết, việc phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí xây lắp tại một doanh nghiệp cụ thể là rất cần thiết. Khóa luận về Công ty TNHH Xây dựng Hoàng Sơn cung cấp một cái nhìn thực tế về quy trình này. Tại đây, công ty áp dụng chế độ kế toán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng vẫn sử dụng các tài khoản chi phí chi tiết theo Thông tư 200 (TK 621, 622, 627), cho thấy sự linh hoạt trong việc vận dụng chính sách kế toán để đáp ứng yêu cầu quản lý. Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành của công ty là từng công trình xây dựng. Quy trình luân chuyển chứng từ từ khâu đề nghị vật tư, xuất kho, chấm công cho đến khi tập hợp lên sổ cái được tổ chức tương đối bài bản. Phân tích số liệu tài chính của công ty qua các năm cho thấy sự biến động của chi phí và giá thành, phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu thực tế này giúp nhận diện những ưu điểm cần phát huy và những nhược điểm cần khắc phục trong công tác hạch toán kế toán xây dựng.

5.1. Quy trình bóc tách khối lượng và lập dự toán công trình

Tại các công ty xây dựng, trước khi thi công, phòng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc bóc tách khối lượng từ bản vẽ thiết kế và lập dự toán công trình. Bảng dự toán này chi tiết hóa các khoản mục chi phí dự kiến, bao gồm chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công và các chi phí khác. Đây chính là cơ sở để công ty xây dựng định mức chi phí xây dựng, là căn cứ để theo dõi, so sánh và đánh giá hiệu quả quản lý chi phí trong suốt quá trình thi công. Việc lập dự toán càng chi tiết và chính xác thì công tác kiểm soát chi phí thực tế phát sinh so với kế hoạch càng trở nên hiệu quả, giúp ban lãnh đạo sớm phát hiện các sai lệch để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.

5.2. Phân tích báo cáo tài chính công ty xây dựng điển hình

Việc phân tích báo cáo tài chính công ty xây dựng mang lại nhiều thông tin hữu ích. Bảng cân đối kế toán cho thấy cơ cấu tài sản và nguồn vốn, đặc biệt là giá trị hàng tồn kho (phản ánh giá trị chi phí dở dang cuối kỳ của các công trình). Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh doanh thu, giá vốn hàng bán (chính là giá thành công trình đã bàn giao), và lợi nhuận gộp. Bằng cách phân tích các chỉ số tài chính như tỷ suất lợi nhuận gộp, vòng quay hàng tồn kho, nhà quản lý có thể đánh giá được hiệu quả của công tác quản lý chi phí, khả năng sinh lời của từng dự án và sức khỏe tài chính tổng thể của doanh nghiệp. Đây là bước cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng trong chu trình kế toán giá thành sản phẩm xây lắp.

VI. Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí tính giá thành xây lắp

Để nâng cao hiệu quả và độ chính xác của công tác kế toán chi phí và tính giá thành, các doanh nghiệp xây dựng cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm. Đầu tiên là việc chuẩn hóa quy trình luân chuyển chứng từ và phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận (kế toán, kỹ thuật, công trường). Điều này đảm bảo dữ liệu đầu vào cho hệ thống kế toán luôn đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy. Thứ hai, việc xây dựng hệ thống định mức chi phí xây dựng chi tiết và thường xuyên cập nhật theo biến động giá cả thị trường là vô cùng cần thiết. Hệ thống định mức này là thước đo để kiểm soát chi phí thực tế. Quan trọng hơn cả, trong kỷ nguyên số, việc đầu tư và ứng dụng hiệu quả các phần mềm kế toán xây dựng chuyên dụng là một giải pháp đột phá. Các phần mềm này không chỉ tự động hóa các tác vụ thủ công mà còn tích hợp các modul quản lý khác như quản lý dự án, quản lý vật tư, giúp cung cấp một bức tranh tài chính tổng thể và chi tiết, hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định của nhà quản trị.

6.1. Tối ưu hóa quản lý chi phí dự án bằng công nghệ mới

Công nghệ mang lại những công cụ mạnh mẽ để tối ưu hóa quản lý chi phí dự án. Việc áp dụng các giải pháp quản lý dự án tích hợp với kế toán cho phép theo dõi chi phí theo thời gian thực. Các công nghệ như BIM (Building Information Modeling) không chỉ hỗ trợ thiết kế mà còn giúp bóc tách khối lượng và lập dự toán chính xác hơn. Việc sử dụng các ứng dụng di động để quản lý chấm công, theo dõi vật tư tại công trường giúp giảm thiểu sai sót và độ trễ trong việc cập nhật dữ liệu. Bằng cách tận dụng công nghệ, doanh nghiệp có thể nâng cao tính minh bạch, kiểm soát chặt chẽ chi phí và cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động.

6.2. Xu hướng ứng dụng phần mềm kế toán xây dựng chuyên dụng

Các phần mềm kế toán xây dựng chuyên dụng đang trở thành xu hướng tất yếu. Khác với các phần mềm kế toán thông thường, các giải pháp này được thiết kế với các tính năng đặc thù cho ngành xây dựng như: quản lý chi phí theo từng công trình, hạng mục; tự động phân bổ chi phí chung; theo dõi tiến độ và giá trị nghiệm thu công trình; tích hợp với modul dự toán và quản lý vật tư. Việc sử dụng phần mềm giúp giảm tải công việc thủ công cho kế toán viên, hạn chế sai sót, và cung cấp các báo cáo quản trị đa dạng, chi tiết, giúp ban lãnh đạo có cái nhìn sâu sắc và kịp thời về tình hình tài chính của từng dự án và toàn bộ công ty.

04/10/2025
Khóa luận tốt nghiệp kế toán kiểm toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty tnhh hoàng sơn khối thị trấn diễn châu nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CÔNG TY XÂY LẮP 1.1 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp “ Chi phí là tổng các giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dƣới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc vốn chủ sở hữu”. ( Chuẩn mực số 01 của Bộ tài chính) “ Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế, về tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động SXKD”. Huỳnh Lợi 2009) “Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ khoản hao phí vật chất mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện công tác xây lắp nhằm tạo ra các sản phẩm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng nhƣ theo hợp đồng giao nhận thầu đã ký kết”.Võ Văn Nhị_ Kế toán tài chính, 2001) 1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp vì nó ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi nhuận trong doanh nghiệp, ảnh hƣởng tới việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu: - Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản tiền lƣơng chính, lƣơng phụ, phụ cấp theo lƣơng phải trả cho ngƣời lao động và các khoản trích theo lƣơng nhƣ KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN,.của ngƣời lao động.

SVTH: Lê Thị Vân 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú - Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí phụ tùng thay thế, chi phí nguyên vật liệu khác,. sử dụng trong sản suất. - Chi phí công cụ, dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua công cụ xuất dùng và dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao của tất cả các TSCĐ, tài sản dài hạn, máy móc dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chi phí và dịch vụ thuê ngoài: Bao gồm giá dịch vụ mua ngoài cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng trong thi công xây lắp nhƣ vật liệu xây lắp, nhiên liệu.Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thƣờng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí nên dễ nhận diện, định lƣợng một cách chính xác. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản lƣơng nhân công trực tiếp và các khoản trích theo lƣơng nhƣ BHYT, BHTN, KPCĐ,.Đối với quy trình công nghệ thủ công thì chi phí nhân công trực tiếp là chi phí lƣơng, các khoản trích theo lƣơng,.của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm.

Đối với những quy trình sản xuất tự động hóa thì chi phí nhân công là chi phí lƣơng, các khoản trích theo lƣơng,.của công nhân trực tiếp vận hành, điều khiển quy trình đó. - Chi phí sử dụng máy thi công: Bao gồm các chi phí liên quan đến việc sử dụng máy thi công nhƣ tiền lƣơng nhân công trực tiếp điều khiển máy thi công, chi phí khấu hao máy thi công,. - Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí trực tiếp khác ngoài ba chi phí trên nhƣ chi phí tổ chức, quản lý gắn liền với chi phí của tổ, đội, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí điện, nƣớc, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác,. SVTH: Lê Thị Vân 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.

Nguyễn Quốc Tú - Chi phí bán hàng: Là những chi phí đảm bảo cho việc bán hàng của doanh nghiệp bao gồm chi phí lƣơng trong việc trực tiếp hay gián tiếp trong hoạt động bán hàng, chi phí nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho việc bán hàng, chi phí công cụ dụng cụ, bao bì,. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động hành chính, quản lý nhƣ lƣơng, các khoản trích theo lƣơng, chi phí nhiên liệu, nguyên liệu,. phục vụ cho công tác quản lý tại doanh nghiệp. Phân loại theo phƣơng pháp quy nạp - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tƣợng chịu chi phí, có thể tính trực tiếp và cho từng đối tƣợng.

- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tƣợng chịu chi phí nên đƣợc phân bổ cho từng đối tƣợng theo các tiêu thức nhất định. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động - Biến phí: Là những chi phí có mối tƣơng quan tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động, mức độ hoạt động có thể là số lƣợng sản phẩm sản xuất ra, số lƣợng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành. - Định phí: Là những chi phí không thay đổi theo mức độ hoạt động. - Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao gồm hỗn hợp định phí và biến phí.

Ngoài ra còn có một số nhận diện khác về chi phí nhƣ: - Chi phí kiểm soát đƣợc và chi phí không kiểm soát đƣợc. - Chi phí chênh lệch - Chi phí chìm - Chi phí cơ hội SVTH: Lê Thị Vân 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.2 Giá thành sản phẩm và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 Khái niệm Ts. Huỳnh Lợi (2009) “Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lƣợng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhất định.” Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác cho công trình, hạng mục công trình hay khối lƣợng sản xuất hoàn thành đến giai đoạn quy ƣớc đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và đƣợc chấp nhận thanh toán. Vì vậy, giá thành sản phẩm xây lắp là một trong những chỉ tiêu chất lƣợng quan trọng, vì nó phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định kết quả tài chính.2 Đối tượng và kỳ tính giá thành Xác định đối tƣợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm của kế toán.

Kế toán phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, tính chất sản xuất và yêu cầu quản lý để xác định đối tƣợng tính giá thành một cách hợp lý. Trong kinh doanh xây lắp do tính chất sản xuất đơn chiếc mỗi sản phẩm có lập dự toán riêng nên đối tƣợng tính giá thành thông thƣờng là: hạng mục công trình, toàn bộ công trình, hay khối lƣợng công tác xây lắp hoàn thành. Xác định đối tƣợng tính giá thành là cơ sở để kế toán lập phiếu tính giá thành sản phẩm, tổ chức tính giá thành theo đối tƣợng phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh để có kế hoạch, biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm nhƣng đảm bảo đƣợc chất lƣợng sản phẩm. Trong kinh doanh xây lắp thời gian sản xuất sản phẩm kéo dài.

Do vậy xét về mặt lƣợng thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thƣờng không bằng nhau. Chúng chỉ thực sự bằng nhau khi không có giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. SVTH: Lê Thị Vân 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú Đối tƣợng tính giá thành là các loại sản phẩm do doanh nghiệp xây lắp sản xuất ra, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.

“ Đối tƣợng tính giá thành thƣờng là công trình, hạng mục công trình, khối lƣợng công việc hoàn thành bàn giao hoặc đã đƣợc nghiệm thu đúng tiêu chuẩn chất lƣợng kỹ thuật chờ bán”. Huỳnh Lợi 2009) Kỳ tính giá thành là thời gian tính giá thành thực tế cho từng đối tƣợng tính giá thành nhất định. Kỳ tính giá thành là mốc thời gian mà bộ phận kế toán giá thành tổng hợp số liệu thực tế cho các đối tƣợng. Việc xác định kỳ tính giá thành phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chu kỳ sản xuất và hình thức bàn giao công trình.

- Với công trình nhỏ, thời gian thi công ngắn (dƣới 12 tháng), kỳ tính giá thành là từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình. - Với những công trình lớn, thời gian thi công kéo dài (lớn hơn 12 tháng), khi nào có một bộ phận, hạng mục hoàn thành, có giá trị sử dụng và đƣợc nghiệm thu, kế toán tiến hành tính giá bộ phận, hạng mục đó. - Với những công trình có thời gian kéo dài nhiều năm, những bộ phận không thể tách ra để đƣa vào sử dụng đƣợc, khi từng phần điểm lắp đặt đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý theo thiết kế tính toán sẽ tính giá thành cho khối lƣợng công tác đƣợc hoàn thành bàn giao. Kỳ tính giá thành này là từ khi bắt đầu thi công cho đến khi đạt điểm dừng kỹ thuật.3 Phương pháp tính giá thành Theo TS.

Huỳnh Lợi phƣơng pháp tính giá thành thƣờng sử dụng phƣơng pháp sau:  Phƣơng pháp giản đơn: Phƣơng pháp này thƣờng áp dụng để tính giá thành khi đối tƣợng tập hợp chi phí là đối tƣợng tính giá thành. Đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính chất đơn chiếc, đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất SVTH: Lê Thị Vân 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú phù hợp với đối tƣợng tính giá thành. Hơn nữa, áp dụng phƣơng pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành trong mỗi kỳ báo cáo và cách tính đơn giản, dễ dàng thực hiện.

Ngoài ra còn có các phƣơng pháp khác:  Phƣơng pháp tỷ lệ: Phƣơng pháp này áp dụng khi cùng một công trình tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đối tƣợng tập hợp chi phí là toàn bộ công trình thi công xây lắp, đối tƣợng tính giá thành là từng hạng mục, chi tiết.  Phƣơng pháp hệ số: Phƣơng pháp này chỉ khác với phƣơng pháp tỷ lệ là các hạng mục hoàn thành đƣợc xác lập các hệ số quy đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ