Chương 1-12 Người dịch: Nguyễn Đức Anh Giới thiệu về khiếm thị ẢNH HƯỞNG TÂM LÍ CỦA KHIẾM THỊ (TIẾP THEO) Trước khi một người mù hoặc giảm thị lực có thể điều chỉnh đối với những thay đổi thị lực, họ sẽ cảm thấy đủ loại cảm giác và cảm xúc. Mặc dù có thể có nhiều phản ứng chung đối với giảm thị lực, không phải mọi người đều cảm nhận chúng theo cách giống nhau. Không thể dự đoán được các giai đoạn điều chỉnh. Những cảm xúc có thể được cảm nhận một phần, trong những kết hợp khác nhau, hoặc không chút nào.
Không có khung thời gian đã định giữa thời điểm chẩn đoán và thời điểm chấp nhận. Một số yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng của bệnh nhân đối với giảm thị lực: PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI • Mức độ giảm thị lực. GIẢM THỊ LỰC • Tốc độ bắt đầu. • Tiên lượng y học.
• Tuổi khi nó xảy ra. • Những định kiến của bệnh nhân về mù. • Những yếu tố sức khỏe khác. • Những hoàn cảnh xã hội và lối sống trực tiếp.
• Khả năng vốn có để đối phó với những tổn thất khác. Sốc và hoài nghi Đây có thể là một thời gian rút lui khi bệnh nhân không thể suy nghĩ hoặc cảm giác. Nó có thể được gọi là một giai đoạn mất ý thức bảo vệ đối với sự căng thẳng trầm trọng. Không ai có thể đoán được giai đoạn này kéo dài bao nhiêu ngày hoặc bao nhiêu tuần.
Bạn bè và gia đình có thể chứng tỏ mối quan tâm của họ bằng một hành động "có mặt". Chỉ cần ở đó, bạn có thể giúp đỡ và không cần thiết phải có hành động cụ thể hoặc lời nói nào. Động viên bằng một hi vọng giả rằng thị lực có thể phục hồi không phải là một ý hay. Giận dữ Bệnh nhân có thể biểu lộ những cảm giác này qua một thái độ tiêu cực nặng nề, một trải nghiệm rất nản lòng đối với người chăm sóc và thành viên gia đình.
Bệnh nhân có thể trở nên sợ hơn và phản ứng với sự giận dữ. Họ có thể đổ sự giận dữ lên những người khác như một cách để cân bằng. Nhân viên y tế, người chăm sóc, gia đình và bạn bè, tất cả đều có thể trở thành đối tượng của sự giận CÁC GIAI ĐOẠN TRONG dữ của bệnh nhân. QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH 3.
Cự tuyệt ĐỐI VỚI GIẢM THỊ LỰC Bệnh nhân có thể cự tuyệt thẳng thừng hoàn cảnh, hoặc từ chối chấp nhận những hạn chế thị giác. Ở giai đoạn này, bệnh nhân có thể từ chối tiếp xúc với cơ sở cho người mù. Chán nản Những cảm giác đột ngột khác và ý thức mất điều khiển có thể là cơ sở cho loại đáp ứng này. Họ thích cô lập hơn.
Những người có nhân cách khép kín có thể biểu lộ những cảm giác của mình trong sự thất vọng lặng lẽ và tự thương mình. Một số người có thể chọn cách tự cho phép mình trở thành quá phụ thuộc vào những người khác. Nhận thức được Do bệnh nhân bắt đầu ra khỏi trạng thái chán nản và nhận thức được ảnh hưởng không thể tránh được của giảm thị lực; bệnh nhân có thể nhận ra tình hình thực tế. Có thể thực tế hơn khi mô tả sự thích ứng là chấp nhận thực tế không dễ chịu của tình hình bằng cách nhận ra những tài sản và khả năng còn lại.
Tháng 11, 2012, Phiên bản 1-1 Giới thiệu về khiếm thị, Chương 1-13 Người dịch: Nguyễn Đức Anh Giới thiệu về khiếm thị ẢNH HƯỞNG TÂM LÍ CỦA KHIẾM THỊ (TIẾP THEO) 6. Chấp nhận Sự điều chỉnh hoàn toàn đối với giảm thị lực chỉ có thể đạt được khi bệnh nhân nhận thấy rằng sự giảm thị lực là cuối cùng và không thể hồi phục. Một số yếu tố giúp cho việc chấp nhận: • Gặp những người đã điều chỉnh được (qua các nhóm đồng đẳng hoặc qua từng người). CÁC GIAI ĐOẠN TRONG • Nhận ra các cách đối phó đã hiệu quả đối với các cơn khủng hoảng trước đây.
QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH • Có đủ thời gian để đau buồn cho sự mất thị lực. ĐỐI VỚI GIẢM THỊ LỰC • Sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè. (TIẾP THEO) • Nhận được sự giúp đỡ thiết thực trong những công việc hàng ngày đến khi họ thấy sẵn sàng gánh thêm trách nhiệm. • Có được thông tin về sự hỗ trợ sẵn có của cộng đồng.
Một người có thể không trải qua tất cả các giai đoạn này, đặc biệt những người chấp nhận và điều chỉnh. Một số thí dụ những dấu hiệu của kém điều chỉnh là tiếp tục hi vọng không có cơ sở về sự hồi phục, biểu hiện phụ thuộc không cần thiết hoặc quá mức, giảm giá trị cá nhân, xa lánh xã hội, thiếu động cơ, chán nản kéo dài, liên tục cự tuyệt, và chủ nghĩa hành vi mù quá mức. Người khiếm thị cũng có những nhu cầu cơ bản của tình yêu, sự chấp nhận, những nhận thức giá trị bản thân và lòng tự trọng. Cần nhấn mạnh vào những mặt tốt, những khả năng và tài sản và giữ một cách nhìn thực tế đối với những hạn chế có thể có.
Chỉ dẫn phải rõ ràng và cụ thể. Chuyện trò phải tự nhiên và không nên nói to. Cần khuyến khích bệnh nhân bằng cách khen ngợi những thành tính thực và làm các công việc một cách độc lập, chỉ can thiệp khi cần. Không nên coi mù là lời bào chữa cho hành vi không chấp nhận được về mặt xã hội.
Người khiếm thị dựa vào thông tin phản hồi thành thực từ những người khác để xác định sự chấp nhận xã hội về vẻ ngoài và hành động của họ. Sự tham gia tích cực vào các công việc xã hội, cộng đồng, giải trí, và của công dân tạo thuận lợi cho việc hòa nhập đầy đủ hơn. LỜI KHUYÊN ĐỂ LÀM Những hậu quả của giảm thị lực có thể giải thích một số phản ứng đối với nó. Thí dụ, VIỆC VỚI NHỮNG NGƯỜI mất tin tưởng vào các giác quan còn lại của mình mà không có khả năng kiểm tra KHIẾM THỊ một thông tin bằng thị giác.
“Âm thanh của vải là do rèm cửa bị lay động bởi gió hay là một con chuột chạy qua sàn nhà?” “Mùi khói đó xuất phát từ nhà hàng xóm nướng thịt ngoài trời hay là căn hộ của tôi bốc cháy?” Thị giác góp phần cho việc giao tiếp bằng cách cho phép chúng ta hiểu được biểu hiện trên khuôn mặt, các cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể và chuyển động của môi. Tất cả những điều này mất đi khi bị giảm thị lực nặng. Ý thức độc lập phụ thuộc vào khả năng lái xe của chúng ta, nó bị mất hoặc giảm đi ở người bị giảm thị lực. Khả năng tiếp tục một nghề đã chọn có thể biến mất cùng với sự đảm bảo tài chính, cảm giác của vai trò đầy ý nghĩa trong xã hội, và khả năng lo liệu cho những năm về hưu.
Tất cả những tổn thất này có thể làm giảm sự tự ý thức của một người, và có thể là tổn thất lớn nhất. Người chăm sóc khiếm thị sẽ gặp những bệnh nhân có nhiều loại giảm thị lực và tất cả các mức độ phản ứng đối với sự giảm thị lực. Việc chuyển tuyến đến những người có thể giúp bệnh nhân đối phó với giảm thị lực bao giờ cũng cần được xem xét và không nên là một sự cần thiết giả bộ. Tháng 11, 2012, Phiên bản 1-1 Giới thiệu về khiếm thị, Chương 1-14 Người dịch: Nguyễn Đức Anh Giới thiệu về khiếm thị TÀI LIỆU THAM KHẢO • Epidemiology Of Eye Diseases • Low Vision In Children (WHO Consultative Meeting Report) WHO/PBL/93.27 • Report of the WHO Consultation on Management of Low Vision in Children, Bangkok, 23-24 July 1992 http://whqlibdoc.int/hq/1993/WHO_PBL_93.pdf • Low Vision In Elderly (WHO Consultative Meeting Report) WHO/PBL/96.57 • Report of the Workshop on Low Vision Care for the Elderly, Madrid, 4-6 July 1996 http://whqlibdoc.int/hq/1996/WHO_PBL_96.pdf Tháng 11, 2012, Phiên bản 1-1 Giới thiệu về khiếm thị, Chương 1-15 Người dịch: Nguyễn Đức Anh NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA KHIẾM THỊ TÁC GIẢ Hasan Minto: Viện thị giác Brien Holden, Paskistan.
Rituparna Ghoshal: Viện mắt LV Prasad, Ấn độ. THẨM ĐỊNH Jill Keefe: Trung tâm nghiên cứu mắt Australia (CERA), Melbourne, Australia. Pirindhavellie Govender: Đại học KwaZulu Natal (UKZN) Durban, Nam phi. GIỚI THIỆU Chương này bao gồm những nội dung: • Những nguyên nhân thường gặp của khiếm thị.
• Triệu chứng và những ảnh hưởng của khiếm thị. • Ảnh hưởng chức năng của các bệnh gây giảm thị lực. NGUYÊN NHÂN CỦA KHIẾM THỊ Để hiểu rõ hơn bản chất của thị lực còn lại, chúng ta cần xem xét nguyên nhân của khiếm thị. Dưới đây là một số nguyên nhân của khiếm thị: • Đục thể thủy tinh.
• Bệnh võng mạc đái tháo đường. • Sẹo giác mạc có thể do thiếu vitamin A hoặc bệnh mắt hột. • Bệnh liên quan HIV, thí dụ viêm võng mạc do CMV(Cytomegalovirus) • Bệnh đầu thị thần kinh. • Chấn thương.
• Viêm võng mạc sắc tố. • Nhãn cầu nhỏ. • Thoái hóa hoàng điểm. • Không có mống mắt.
Còn nhiều bệnh khác dẫn đến khiếm thị. Các bệnh này cần được gộp vào những bệnh được đề cập đến trong các khóa học về bệnh mắt của bạn. Tháng 6, 2012, Phiên bản 1-1 Nguyên nhân và triệu chứng của khiếm thị, Chương 2-1 Người dịch: Nguyễn Đức Anh Nguyên nhân và triệu chứng của khiếm thị TRIỆU CHỨNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KHIẾM THỊ Người khiếm thị có thể có những triệu chứng sau: nhìn hình biến dạng, ở cả gần và xa; thị trường thu hẹp; giảm thị lực ban đêm; mù màu và/hoặc; thị lực tương phản giảm nặng. Người khiếm thị có thể gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày một cách độc lập.
Với một số bệnh mắt, một người nhìn tốt hơn trong bóng râm, không có ánh sáng chói. Với những bệnh mắt khác, người ta cần ánh sáng chói để nhìn rõ. Người khiếm thị thường cần nhiều thời gian hơn người thị lực bình thường để thực hiện các hoạt động. Khi dùng mắt trong một thời gian dài, người khiếm thị có thể chóng mệt mỏi hơn những người khác, do đó những người này nên có thời gian ngắn để nghỉ ngơi, sau đó lại tiếp tục các hoạt động.
Một số người khiếm thị nhìn các vật to dễ hơn và thấy hữu ích khi dùng chữ to để đọc. Tuy nhiên, vật to không phải bao giờ cũng là tốt nhất đối với một số người. Kích thước của vật không phải bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất. Những yếu tố khác như khoảng cách đến vật, lượng ánh sáng, màu sắc và tương phản cũng làm cho vật dễ nhìn thấy hơn.