Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế GTGT và các quy định của pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT ở Việt Nam. Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM 1. Định nghĩa về thuế GTGT 1.
Sự ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam Thuế ra đời là tất yếu khách quan, gắn liền với sự tồn tại của nhà nuớc, “để duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng góp của những ngƣời công dân cho nhà nƣớc, đó là thuế má …” [9, 552]. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Thuế GTGT ra đời là sự thay thế hợp lý của thuế doanh thu, tuy là một sắc thuế khá trẻ, nhƣng cho đến nay đã có trên 130 quốc gia áp dụng. Trƣớc đó vào những năm đầu của thế kỷ 20 tƣ tƣởng manh nha về thuế GTGT đã xuất hiện.
“Trên thế giới thuế GTGT lần đầu tiên đƣợc đề xuất áp dụng vào năm 1918, bởi một nhà Kinh tế ngƣời Đức Carld Rilordrich Sienvens và ở Nhật vào năm 1953. Tuy nhiên, nƣớc đầu tiên trên thế giới áp dụng thuế GTGT là Pháp, vào năm 1954” [34,19]. Ngay từ buổi đầu thuế GTGT đƣợc áp dụng tại Pháp đã đáp ứng đƣợc hai mục tiêu cơ bản là đảm bảo số thu kịp thời vào ngân sách nhà nƣớc và khắc phục đƣợc tình trạng trùng lặp của thuế Doanh thu trƣớc đây. Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng.
Thuế GTGT tự bản thân nó là một sắc thuế tiên tiến đƣợc áp dụng rộng rãi và thành công ở hơn 100 quốc gia trên thế giới. Ở Việt nam, trƣớc năm 1990, thuế Doanh thu áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể. Điều lệ Thuế Công thƣơng nghiệp ban hành theo Nghị quyết số 200/NQ-TVQH ngày 18/1/1966 quy định loại thuế này. Đối với các xí nghiệp quốc doanh, áp dụng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chế độ “thu quốc doanh”, đƣợc quy định cụ thể trong từng thời gian nhất định.
Mức thu quốc doanh đƣợc áp dụng riêng cho từng mặt hàng, từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh. Do áp dụng hai chế độ thu khác nhau, thể hiện phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, bên cạnh đó chế độ thu quốc doanh cũng bộc lộ những nhƣợc điểm cơ bản. Hệ thống thuế và thu ngân sách nói trên không thống nhất và thiếu bình đẳng trong việc động viên tài chính giữa các thành phần kinh tế đã không khuyến khích đƣợc đầu tƣ, phát triển sản xuất, kinh doanh [35,116]. Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nƣớc ta bắt đầu một giai đoạn mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế thị trƣờng, định hƣớng XHCN.
Năm 1990, Quốc hội ban hành Luật Thuế Doanh thu, áp dụng chung cho các chủ thể có hoạt động sản xuất kinh doanh. Sắc thuế này đã đƣợc sửa đổi, bổ sung 2 lần vào năm 1993 và năm 1995. Ngoài ƣu điểm là thuế doanh thu áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh, có doanh thu phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, phạm vi điều chỉnh rộng hơn hẳn các sắc thuế cùng thời, “thuế doanh thu tạo lập môi trƣờng pháp lý tài chính tƣơng đối thuận lợi cho đầu tƣ vào phát triển sản xuất kinh doanh”[35,117] thì sắc thuế này cũng tồn tại nhiều nhƣợc điểm. Căn cứ tính thuế của thuế doanh thu là doanh thu tính thuế và thuế suất.
Theo đó, doanh thu tính thuế đƣợc xác định là toàn bộ doanh thu phát sinh trên mỗi khâu của quá trình sản xuất, lƣu thông. Nhƣ vậy, hàng hóa càng qua nhiều khâu của quá trình lƣu thông, số tiền tính thuế doanh thu đƣợc tính cho hàng hóa càng lớn. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nƣớc thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trƣớc. Bên cạnh đó chế độ thuế suất của Thuế Doanh thu cũng phức tạp kết cấu thành 11 mức, áp dụng cho từng nhóm sản phẩm, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch vụ, theo từng ngành nghề, hoạt động kinh doanh, rất khó khăn cho quá trình áp dụng và cũng dễ nảy sinh những vi phạm pháp luật về thuế.
Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lƣu thông hàng hoá. Với tính ƣu điểm của thuế giá trị gia tăng là Nhà nƣớc chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lƣu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh nhƣ mô hình thuế doanh thu. Nếu nhƣ không có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lƣu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hƣởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh đƣợc thuế chồng lên thuế. Những hạn chế của thuế doanh thu hoàn toàn có thể khắc phục đƣợc bởi thuế GTGT.
Vì vậy, Việt Nam cũng thực hiện từng bƣớc thay thế Luật Thuế Doanh thu bằng Luật Thuế GTGT, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện loại thuế mới với nhiều ƣu việt hơn. Với bản chất là loại thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT đƣợc khẳng định nhƣ một loại thuế có độ chính xác, hợp lý, khoa học và công bằng hơn thuế doanh thu, khắc phục đƣợc hiện tƣợng thuế chồng thuế. Đồng thời thuế GTGT còn khẳng định ƣu điểm của mình trong khuyến khích hoạt động xuất khẩu, khuyến khích đầu tƣ và góp phần thực hiện công bằng xã hội trong thuế. Ở Việt Nam, thuế GTGT đƣợc bắt đầu nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bƣớc 1 (năm 1990).
Năm 1993, Việt Nam tiến hành nghiên cứu thuế GTGT và bắt đầu áp dụng thí điểm ở một số ngành hàng. Áp dụng trên cơ sở Nghị Quyết về dự toán ngân sách nhà nƣớc năm 1993 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ II thông qua ngày 23/12/1992. Theo đó, giao cho Chính phủ thực hiện thí điểm thu thuế GTGT để rút kinh nghiệm xây dựng dự án Luật thuế này. Việc tồn tại song song chế 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ thuế doanh thu và thuế GTGT gây khó khăn cho việc xác định nghĩa vụ thuế.
Phạm vi áp dụng thuế GTGT thí điểm rất hẹp (chỉ có 11 doanh nghiệp) đã cản trở hoạt động khấu trừ thuế GTGT, mức thuế suất thuế GTGT chênh lệch so với thuế suất thuế doanh thu dẫn đến việc khấu trừ không chính xác. Luật Thuế GTGT đuợc Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1999, thay thế cho Luật Thuế Doanh thu trƣớc đây. Kể từ khi bắt đầu áp dụng cho tới nay đã có 07 lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế vào các năm: 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2005 và 2008. Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nƣớc, trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm, hay chỉ suất giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trƣờng hợp tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng trong định kỳ điều chỉnh.
Nhƣ vậy ta có thể kết luận rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lƣu thông hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu. Khái niệm thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi tắt là Thuế GTGT) là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của ngƣời chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ. Đây là một loại thuế gián thu. “Dƣới giác độ kinh tế - tài chính, thuế gián thu là thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của ngƣời nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ”[19,13].
Dƣới giác độ pháp lý, thuế gián thu đƣợc hiểu là loại 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuế mà ngƣời gánh chịu thuế là khách hàng, nhƣng ngƣời nộp thuế lại là ngƣời bán hàng, nhà nhập khẩu [38,15]. Hiện nay khái niệm về thuế GTGT đƣợc hiểu dƣới nhiều giác độ, khía cạnh và nhiều quan điểm khác nhau. Đề cập đến thuế GTGT là đề cập đến một phạm trù kinh tế- pháp lý đƣợc luật hóa nhằm ràng buộc trách nhiệm của các đối tƣợng nộp thuế với Nhà nƣớc. Mặc dù, dƣới góc độ kinh tế thuế GTGT là sự dịch chuyển một phần lợi ích của ngƣời tiêu dùng dƣới dạng giá trị nhằm tạo lập quỹ tiền tệ trung ƣơng (ngân sách nhà nƣớc), nhƣng trong thực tế tồn tại, thuế GTGT luôn đƣợc thể hiện bằng văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao đƣợc gọi là đạo luật thuế GTGT.
Do vậy, thuế GTGT ra đời là kết quả quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của các nhà kinh tế học, luật học [25,5]. Dƣới góc độ pháp lý là quan hệ pháp luật phát sinh giữa ngƣời tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế với Nhà nƣớc nên sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ thuế GTGT là hành vi, trong trƣờng hợp này là các hoạt động làm gia tăng giá trị hàng hoá, dịch vụ.