MỞ ĐẦU Cấy ghép Implant cho điều trị Phục hồi răng hiện đang trở nên ngày càng phổ biến. Việc đặt Implant cho các trường hợp mất răng giúp cho Bệnh nhân đạt được chức năng và thẩm mỹ lâu dài. Tuy nhiên, trong những trường hợp vùng hàm trên bị tiêu xương trầm trọng không đủ cho Implant nha khoa thông thường, việc phục hồi chức năng ăn nhai cho BN vẫn đang là một thách thức. Xương gò má (XGM) là vùng diện tích lớn và có chất lượng tốt, khối lượng xương đầy đủ để cấy ghép Implant XGM và phục hồi chức năng răng miệng.
So với phương pháp đặt Implant truyền thống, đặt Implant XGM có ưu điểm như ít lần phẫu thuật hơn (không phải làm phẫu thuật ghép xương), thời gian phẫu thuật và phục hồi nhanh hơn. Những bệnh nhân mất răng toàn hàm bị mất xương nhiều và có tình trạng lâm sàng phức tạp thường không thể chỉ thực hiện đơn thuần cấy ghép Implant truyền thống mà cần phải có sự kết hợp của các loại hình điều trị khác, như nâng xoang hoặc ghép xương khối [9]. Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tiến hành bởi Davo và cộng sự ở nhiều cơ sở đã cho thấy, mặc dù việc ghép xương và cấy ghép Implant có thể thực hiện được ở những trường hợp sống hàm bị tiêu xương trầm trọng, tổng thời gian điều trị có thể lên đến 430 ngày. Nếu bệnh nhân điều trị bằng phương pháp cấy ghép Implant XGM, thời gian sẽ rút ngắn hơn nhiều và kết quả điều trị có thể tốt hơn [19].
Việc đặt Implant XGM cho bệnh nhân bị tiêu xương hàm trên trầm trọng mà không cần phải ghép xương cho thấy tỷ lệ tồn tại lâu dài từ 94,2% đến 100% [20, 34, 64]. Trong các bệnh nhân bị tiêu xương hàm trên trầm trọng, nghiên cứu cho rằng cần nhiều hơn một Implant XGM ở mỗi cung hàm để có thể nâng đỡ phục hình và hiện tại kỹ thuật đặt bốn Implant XGM đã được đề nghị và phổ biến rộng rãi [18]. Kỹ thuật này đòi hỏi sự đánh giá và đo đạc chính xác XGM để có thể đặt hai Implant XGM ở vị trí phù hợp ở mỗi bên. Việc đo đạc và tính toán các vị trí,.
2 kích thước trên XGM không những cho phép xác định vị trí Implant vững ổn nhất (nơi xương gò má tiếp xúc với Implant nhiều nhất) mà còn giúp nhà lâm sàng tránh gây biến chứng làm tổn thương các cấu trúc giải phẫu lân cận, chẳng hạn như cấy vào hố dưới thái dương. Trong y văn đã có hai nghiên cứu đo đạc độ dày của XGM [50, 57]. Một nghiên cứu đo đạc XGM trên chủng người châu Á chỉ ra rằng XGM ở vị trí dưới trước (so với mặt phẳng ngang) sẽ có chiều dày lớn nhất và là vị trí lý tưởng để cấy ghép Implant XGM. Tuy nhiên các nghiên cứu này đều đo đạc vị trí dày nhất của XGM nhưng lại không thể cho biết vị trí dày nhất này có phải là nơi Implant tiếp xúc với xương gò má nhiều nhất hay không.
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát XGM ở người Việt Nam mất răng toàn bộ trên CBCT với các mục tiêu cụ thể như sau: Mục tiêu tổng quát: Khảo sát vị trí XGM tiếp xúc với Implant nhiều nhất. Mục tiêu chuyên biệt 1. Mô tả đặc điểm độ dày và độ dài XGM trên CBCT ở người mất răng toàn bộ. Xác định các vị trí XGM có số đo xương tiếp xúc Implant (BIC) lớn nhất trên CBCT.So sánh giá trị xương tiếp xúc Implant (BIC) lớn nhất trên cấy ghép Implant ảo với Implant được cấy thực tế (không sử dụng máng hướng dẫn) trên CBCT.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu xương gò má và các yếu tố liên quan 1.1 Xoang hàm [59] Xoang hàm bắt đầu hình thành từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 3 của thai kỳ do sự lộn ngược ra ngoài của niêm mạc phía bên của vách mũi. Khi mới sinh, kích thước xoang khoảng 0,1- 0,2cm và duy trì cho đến lúc mọc răng vĩnh viễn. Xoang hàm phát triển hoàn chỉnh vào giai đoạn trưởng thành kích thước trung bình là 25-35mm chiều rộng, 36-45mm chiều cao và 38-45mm chiều dài, với ước lượng thể tích vào khoảng 14,71cm khối ở người lớn (thể tích có thể tăng lên sau khi mất răng).1 Giải phẫu xoang hàm bên phải (Nguồn: Testori và cộng sự) [59] Xoang hàm có kích thước lớn nhất trong các xoang cận mũi (bao gồm xoang bướm, xoang trán và xoang sàng) và chiếm một phần lớn xương hàm trên. Xoang hàm hai bên liên hệ với mũi bởi lỗ tự nhiên dẫn vào ngách mũi giữa Xoang hàm là một khoang hình tháp, có đáy tựa vào vách mũi, đỉnh chĩa vào vùng xương gò má, chứa đầy không khí nằm trong thân xương hàm trên, gồm có 1 trần, 1 đỉnh và 4 thành.
4 Đỉnh xoang hàm: ở mỏm gò má xương hàm trên. Trần: mặt ổ mắt xương hàm trên. Nền: là mỏm huyệt răng xương hàm trên. Thành trong: là thành ngoài hố mũi.
Thành trước: tương ứng mặt trước xương hàm trên. Thành trước XH là một thành xương mỏng, đặc từ ổ mắt đến ngay trên chóp của răng cối nhỏ. Thành sau: là mặt dưới thái dương của xương hàm trên. Thành sau XH tương ứng với vùng chân bướm - hàm.
Thành sau gần với nhiều cấu trúc quan trọng: Động mạch hàm trên, đám rối chân bướm, hạch chân bướm - khẩu cái và thần kinh khẩu cái lớn. Thành ngoài: là vùng phía sau của xương hàm và mấu trên gò má. Thành ngoài chứa động mạch dưới ổ mắt và động mạch xương ổ trên sau. Thành ngoài xoang hàm là nơi tạo đường vào xoang hàm trong các phẫu thuật liên quan như phẫu thuật nâng xoang hay đặt Implant XGM qua cửa sổ xương phía ngoài.
Theo Aparicio và cộng sự, hình dạng giải phẫu mặt ngoài xoang hàm có liên quan chặt chẽ đến đường đi của Implant XGM cấy ghép. Tùy vào hình dạng giải phẫu của mặt ngoài xoang hàm, đường đi của Implant XGM có thể đi từ hoàn toàn trong xoang hàm cho đến hoàn toàn ngoài xoang [4, 6, 8].2 Tương quan giữa thành ngoài xoang hàm và đường đi của Implant XGM (Nguồn: Aparicio và cộng sự) [6] Hình dạng giải phẫu xoang hàm chia thành các loại: phẳng, hơi lõm, lõm và rất lõm. Đối với dạng phẳng, Implant đi hoàn toàn trong xoang. Đối với dạng rất lõm, Implant sẽ đi hoàn toàn ngoài xoang.
5 Vách ngăn xoang hàm Các xoang hàm thường không đối xứng. Bên trong xoang hàm có thể xuất hiện vách ngăn xương xuất phát từ đáy xoang lên đến một độ cao nào đó trên vách bên. Vách ngăn xương này thường thấy ở vùng răng cối lớn thứ nhất hoặc vùng răng cối nhỏ. Vách ngăn được hình thành từ vỏ xương theo chiều từ dưới lên trên và chia xoang hàm thành nhiều hốc.
Đôi khi các vách này có thể lên tới thành trên xoang hàm tạo thành hai xoang có kích thước nhỏ hơn. Tỷ lệ hình thành vách ngăn từ 16-58%, trung bình 30%. Độ cao trung bình khoảng 8mm có khi lên đến 17mm. Vách dày ở phần sàn xoang và mỏng dần lên, các vách này có thể nằm ở mọi vị trí trong xoang hàm, chủ yếu ở giữa xoang (hình 1.
Sự hiện diện của vách ngăn xoang sẽ gây ra các phức tạp trong phẫu thuật nâng xoang hàm nên việc chẩn đoán sự hiện diện của vách ngăn xoang là cần thiết để biết được kích thước, hình dáng và vị trí mở xoang cũng như việc bóc tách màng xoang khỏi vách ngăn xương này.3 Vách ngăn xoang hàm trên (Nguồn: Testori và cộng sự) [59]. 6 Màng xoang hàm Các vách xoang được phủ bởi màng Schneider. Màng gồm một lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển hình thành bởi các tế bào đáy, tế bào trụ và tế bào hình đài gắn chặt với màng. Các biểu mô này nối liền với biểu mô đường hô hấp.
Thông thường, độ dày của màng Schneider thay đổi từ 0,13 đến 0,5mm. Màng này có thể dày lên trong các bệnh lý viêm nhiễm, dẫn đến viêm xoang. Theo Zhao và cộng sự, các trường hợp cấy ghép Implant XGM xuyên qua xoang hàm sẽ làm độ dày màng xoang hàm tăng lên một cách đáng kể và là yếu tố nguy cơ của bệnh lý viêm xoang [67].2 Cấu trúc giải phẫu xương gò má [2, 61] Xương gò má là thành phần nâng đỡ chủ yếu của khung xương mặt và là cấu trúc chính ở phía ngoài của khối xương tầng giữa mặt đi từ xương thái dương đến xương hàm trên. Đây là một xương dày, chắc khỏe, hình 4 cạnh, mặt ngoài cong lồi, mặt trong lõm.
Sự cong lồi của mặt ngoài thân xương gò má tạo nên ụ nhô cao nhất ở vùng má. Vì có mật độ xương đặc (lên đến 98%), xương gò má là nơi cấy ghép Implant để phục hồi chức năng nhai trong những trường hợp mất răng toàn hàm hoặc bán hàm mà xương hàm trên bị tiêu xương trầm trọng không thể cấy ghép Implant truyền thống [21]. Xương gò má đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì vẻ đẹp thẩm mỹ và chức năng của khuôn mặt và bảo vệ mắt. Nơi nhô cao nhất của XGM, còn gọi là ụ gò má thường được dùng làm nơi đánh dấu điểm mốc thực hiện các nghiên cứu hình thái về sự đối xứng của gương mặt [25].
Xương gò má gồm 3 mặt và 2 mỏm. Mặt ngoài: hướng ra trước - ngoài, có lỗ gò má mắt. 7 Mặt ổ mắt: hướng vào trong, tạo nên một phần thành ngoài và thành dưới của ổ mắt, có lỗ gò má - ổ mắt. Mặt thái dương: hướng ra sau, liên quan với hố dưới thái dương, có lỗ gò má thái dương.
Mỏm trán: hướng lên trên để tiếp khớp với xương trán, tạo nên một phần thành ngoài ổ mắt. Mỏm thái dương: hướng ra sau để tiếp khớp với mỏm gò má của xương thái dương tạo nên cung tiếp. Xương gò má tiếp khớp với 4 xương: hàm trên, thái dương, trán, bướm. Ở phía trên: mỏm trán của xương gò má tiếp khớp với xương trán tạo nên một phần thành ngoài ổ mắt.
Ở phía trong: thân xương gò má tiếp khớp với xương hàm trên. Đường khớp giữa hai xương này nằm ngay phía ngoài lỗ dưới ổ mắt và chạy từ bờ dưới ổ mắt đến mặt dưới của khớp gò má-hàm. Sự tiếp khớp này tạo nên thành trên-ngoài vả một phần thành trên-trước của xoang hàm. Ở phía ngoài: mỏm thái dương của xương gò má tiếp khớp với mỏm gò má của xương thái dương tạo nên cung tiếp.
Ở phía sau: xương gò má tiếp khớp với cánh lớn xương bướm tạo nên phần chính của sàn ổ mắt Hình 1.4 Giải phẫu xương gò má (nguồn: Nguyễn Quang Quyền- bài giảng giải phẫu học 2007) [3] .