mở đầu cho việc khai phá về phương diện lí luận theo hướng tìm tòi, tự đổi mới văn học. Ở bài viết này, ông thể hiện sự đồng tình với ý kiến của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài Viết về chiến tranh: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hi vọng, đang mơ ước” (Văn nghệ Quân đội, số 11/1978). Ông cho rằng: “Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho “phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại, mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho “chân thật”. Hoàng Ngọc Hiến còn chỉ rõ “Xác định xu hướng cao cả như là một đặc tính phổ quát của nền văn học nghệ thuật ở ta hiện nay… Thực ra trong đời sống văn học, nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác… là sự lấn át của cấp lí tính đối với cấp cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mĩ học, sự lấn át của nội dung đối với hình thức trong cấu trúc của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, sự lấn át của lí trí đối với cảm xúc trong hình ảnh con người mới, cũng như sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm”.
Một loạt hiện tượng tiểu thuyết ra đời cho thấy ý thức đổi mới trong văn học đã xuất hiện. Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải – 1983) là cuộc đối thoại của nhiều luồng tư tưởng, nhiều quan niệm giá trị, ở đó chân lí cách mạng bị đặt dưới sự phán xét của những người “phía bên kia”. Thời gian 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của người (Nguyễn Khải – 1985) là phép “tương chiếu” những lựa chọn khác nhau nhưng họ lại gặp nhau ở chỗ đều có tính cách mạnh mẽ, đều tôn thờ một cách sống: sống say mê, “sống hết mình” cho một niềm tin tốt đẹp nên đều có khả năng để lại “dấu vết” trong thời gian miên viễn. Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng – 1982), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng – 1985), Đứng trước biển (Nguyễn Mạnh Tuấn – 1982), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn – 1985) khẳng định nhân cách của những người “đi trước thời đại”, biết “phản biện” lại chân lí cũ, chỉ ra cái lỗi thời của cơ chế kinh tế bao cấp và cái bất cập, bất ổn trong những tiêu chí đánh giá con người nặng về ý thức hệ… Đặc biệt, hiện tượng tiểu thuyết Đứng trước biển của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn ra đời trong bối cảnh kinh tế ở khắp các địa phương và trong tất cả các ngành đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về cách làm ăn theo những Chỉ thị, Nghị quyết mới của Trung ương.
Kết cấu nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết xoay quanh sự trả lại vị trí thích hợp của một cán bộ quản lí gắn với sự thay đổi của một xí nghiệp đánh cá với những suy nghĩ về thời cuộc: “Biển cũng như sự nghiệp cách mạng này có lúc êm ả, nhưng nhiều lúc ầm ào sóng động. Phải thấy rằng tĩnh chỉ là tương đối nhất thời của mặt biển, của cuộc sống”. Từ nhan đề tác phẩm, khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm đã bộc lộ khá rõ: Đứng trước biển, đứng trước cuộc sống, người cách mạng chân chính nghĩ gì và làm như thế nào? Có thể nói, trong một loạt tác phẩm kể trên, bên cạnh cảm hứng ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, nhận thức lại; góc độ quan sát, đánh giá con người dịch chuyển dần về phía đạo đức sinh hoạt. Trong định hướng thế sự, đời tư, nhiều chủ đề mới được nhấn mạnh: giáo dục gia đình, bản lĩnh cá nhân, cái ngẫu nhiên may rủi trong đời sống, khả năng thích ứng với thời thế… là những yếu tố có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành giá trị của con người.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vào năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra, Việt Nam đã thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước. Đường lối Đổi mới và tư tưởng chỉ đạo của Đảng “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” đã tạo nên một bầu không khí dân chủ thực sự trong đời sống văn nghệ. Đại hội Đảng lần thứ VI là đại hội Đổi mới toàn diện đất nước, trên tất cả các lĩnh vực và như thế, đại hội này cũng đã đáp ứng được nhiều đòi hỏi, bức xúc của văn chương, nghệ thuật. Đại hội đã chỉ ra phương hướng nhất quán là: “Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật; xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc”.
Vai trò của văn chương nghệ thuật cũng được xác định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc Đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”. Công cuộc Đổi mới ở nước ta trước hết bắt nguồn từ những đòi hỏi sống còn của bản thân đời sống văn chương, nghệ thuật. Sự sáng suốt trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung biểu hiện ở khả năng nhạy bén phát hiện ra những vấn đề của đời sống, phản ánh kịp thời trong các Nghị quyết, Chỉ thị về văn hóa, văn nghệ để chỉ đạo có hiệu quả thực tiễn sáng tạo đặc thù của nghệ thuật. Trong bước khởi đầu của công cuộc Đổi mới, sự thay đổi quan niệm văn chương, nghệ thuật cho phù hợp với thời cuộc, nhất là đối với quan niệm của giới lãnh đạo và văn nghệ sĩ mang ý nghĩa quyết định.
Từ đó mới đưa đến những đổi thay rõ rệt trong sáng tác và phê bình giai đoạn sau. Lí luận nghệ thuật nước ta đã phần nào tỏ rõ vai trò tiên phong của mình, đặc biệt vào những thời khắc biến chuyển của đời sống và của văn chương, nghệ thuật. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc biệt, dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hoá phát triển được khởi thảo và thông qua. Để chuẩn bị cho Nghị quyết quan trọng này, trong tháng 6 và tháng 7 năm 1987, tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Ban Văn hoá – Văn nghệ Trung ương đã tổ chức mười cuộc hội thảo khoa học về các vấn đề văn hóa, văn học và nghệ thuật như Hội thảo về Vũ Trọng Phụng diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6 tháng 12 năm 1987, cuộc Hội thảo về văn chương Tự lực văn đoàn tổ chức ngày 27 tháng 5 năm 1987 tại Hà Nội… Ngày 28/11/1987, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chính thức được ban hành.
Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm và nhược điểm của văn hóa, văn nghệ trong thời gian qua. Nghị quyết nêu rõ: “Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, cần nhận rõ chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ nói chung còn thấp, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị còn ít, tiềm năng sáng tạo chưa được huy động đầy đủ, bệnh phô trương hình thức, công thức, sơ lược còn nặng” [8]. Với yêu cầu văn nghệ nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm, Nghị quyết đòi hỏi văn nghệ phải trở thành “tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lương tri, của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa…, phát huy chức năng hiểu biết, khám phá, dự báo, sáng tạo, nắm bắt nhạy bén hiện thực đang diễn biến”. Đặc biệt, từ phương châm phải quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của Đảng là coi trọng con người, Nghị quyết chỉ rõ: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng… Cần tạo một không khí hồ hởi trong sáng tác, khơi gợi nhiều cảm hứng sáng tạo cao 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đẹp trong các văn nghệ sĩ… khuyến khích văn nghệ sĩ tìm hỏi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật”.
Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh: “Tự do sáng tác đi đôi với tự do phê bình”. Tuy nhiên, để có tự do thật sự, các nhà lí luận, phê bình cần phải: “Nâng cao tính lí luận, trình độ khoa học, trình độ thẩm mĩ, hiểu biết thực tế sáng tác và thực tế cuộc sống sâu sắc hơn nữa trong công tác phê bình văn học, nghệ thuật”. Có thể nói, đây là Nghị quyết quan trọng đáp ứng những yêu cầu của đời sống văn chương, nghệ thuật, có ảnh hưởng sâu rộng tới tư duy lí luận trước mắt cũng như lâu dài của văn nghệ sĩ. Trong hai ngày 6 và 7, tháng 10 năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có cuộc gặp gỡ với hơn một trăm văn nghệ sĩ và nhà hoạt động văn hóa như nhà văn Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Kiên, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Bằng Việt, Chính Hữu, Chu Văn.; các nhà hoạt động sân khấu Dương Ngọc Đức, Tất Đạt, Lưu Quang Vũ, Tào Mạt, Phạm Thị Thành, Hồ Ngọc, Thanh Hương, Nguyễn Đình Nghi.; các nhà hoạt động âm nhạc Huy Du, Phạm Tuyên, Ái Vân, Xuân Thanh, Hoàng Vân, Đàm Linh, Trung Kiên, Vũ Tự Lân.; các nghệ sĩ tạo hình Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Đặng Thị Khuê, Dương Viên, Nguyễn Quân, Nguyễn Thụ, Thái Bá Vân, Phạm Viết Hồng Lam.; các kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật, Trọng Chi, Hoàng Nghĩa Sang, Ngô Thúc Hoàng.; các nhà hoạt động điện ảnh Trần Đắc, Hải Ninh, Trần Văn Thủy, Bùi Đình Hạc, Đoàn Lê, Lí Thái Bảo, Như Quỳnh, Đặng Nhật Minh.; các nhà nhiếp ảnh Hoàng Tư Trai, Hoàng Kim Đáng, Đinh Ngọc Thông.; cùng các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng Nguyễn Khắc Viện, Phan Huy Lê, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Khiêu, Nông Quốc Chấn, Phan Hữu Dật.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã kêu gọi giới văn 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.