phần mở đầu, từ khoảng nửa đầu thế kỉ hai mươi đến nay đã có rất nhiều đợt di cư của cư dân phía Bắc vào Nam. Họ di cư với nhiều lí do, có thể là vì cuộc sống mưu sinh cũng có thể vì lí do tôn giáo, chính trị hoặc nhiều lí do khác nữa, thế nhưng, hầu hết những người miền Bắc di cư đến miền Nam nói chung, đến tỉnh Kiên Giang nói riêng đều có điểm chung là cần cù, sáng tạo, chịu thương chịu khó. Qua khảo sát tư liệu và thực tế, chúng tôi nhận thấy trong khoảng một thế kỉ trở lại đây có nhiều đợt di cư từ Bắc vào Nam nhưng nhìn chung vẫn có ba đợt di cư được xem là quy mô lớn. Đó là các đợt di cư vào các năm : 1941, từ 1954 đến 1956 và từ 1978 đến 1979.
Đợt di cư có thể xem là sớm nhất là đợt di cư năm 1941 của người miền Bắc chủ yếu là ở vùng nông thôn. Vào năm 1940, báo chí miền Bắc có đăng một bài thơ vận động nhân dân đi vào Nam, cụ thể là vùng Rạch Giá, Tri Tôn làm đồn điền. Hiện nay, hầu hết người dân di cư vào Nam vẫn truyền lại cho con cháu nội dung bài thơ như sau: 9 “Vốn nhà nông nghề mình từ trước Việc cấy cày cả nước cùng theo Bắc kì ruộng ít người nhiều Cái điều nhân mãn là điều đáng lo Miền Rạch Giá người thưa đất rộng Bãi phù sa gần vũng Tri Tôn Muôn ngàn mẫu ruộng bỏ không Cỏ hoa vui mắt non sông nhiệm mầu Nay muốn giúp dân nghèo cả nước Chính phủ bèn mở cuộc di dân Đưa người ra đó làm ăn Riêng dân Nam, Thái dự phần được đi Nhờ chính phủ thương vì rất mực May áo quần lương thực cấp cho Ruộng vườn, nhà cửa, trâu bò Mười lăm mẫu ruộng riêng cho tư điền Dịp may mắn tự nhiên mà gặp Anh em nghèo xin chớ bỏ qua Chữ rằng tứ hải vi gia Ở đâu cũng đất nước nhà Việt Nam Nên cố gắng ăn làm chăm chỉ Chớ tin điều tà quỉ điêu ngoa Những điều gian trá xấu xa Đừng nên nghe vạy nữa mà mất khôn Cát lấp mãi nên cồn mấy chốc Đất vỡ dần thành thục có phen Nền ta nếp cũ vẫn còn Ngoảnh trông Tiền Hải, Kim Sơn thuở nào Công tác thổ dồi dào khắp cõi 10 Cuộc hưng vong nối dõi tông đường Một mai sở vững bền Thành làng thành nước nổi lên cơ đồ.” Đó là một nội dung vận động nhân dân hai tỉnh Nam Định và Thái Bình vào vùng Tri Tôn lập nghiệp, thực ra đó là một hình thúc mộ phu của tay tư sản Belot. Được chính quyền thực dân ủng hộ bằng một số chính sách cụ thể trong việc di dân, Belot đã mộ được 750 gia đình của các huyện Tiền Hải, Kiến Xương, Thụy Anh, Nghĩa Hưng, Xuân Thủy, Hải Hậu thuộc hai tỉnh Nam Định và Thái Bình vào làm công cho hắn dưới hình thức chia đất cho dân khai hoang lập nghiệp.
Như vậy, đến ngày 27/10/1941, đã có 750 gia đình quê ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình vào định cư trên vùng đất mới này cho đến ngày nay. Có thể xem đợt di cư này là cuộc di cư thứ nhất và riêng có trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Đợt di cư thứ hai có thể xem là cuộc di cư vào Nam qui mô lớn nhất từ trước đến nay. Qua khảo sát tài liệu, chúng tôi thấy rằng từ năm 1954 đến năm 1956, tổng cộng có khoảng một triệu người gốc Bắc di cư vào Nam.
Ngoài số đông là người Kinh, trong đợt di cư này cũng có khoảng bốn mươi lăm ngàn người dân tộc thiểu số Tây Bắc như Nùng, Thái, Mèo,. Trong đợt di cư này, đồng bào công giáo có khoảng tám trăm ngàn người chiếm hơn hai phần ba số dân di cư. Trong số đó có rất đông giáo dân thuộc các làng Bùi Chu và Phát Diệm thuộc tỉnh Ninh Bình và các khu vực phụ cận. Như vậy, có thể nói lí do tôn giáo là lí do thứ nhất của những người di cư đợt này.
Có thể xem đợt di dân này là đợt di dân nhiều nhất trong lịch sử của người gốc Bắc vào Nam. Khi vào Nam, đại bộ phận những cư dân này sống tập trung theo khu vực, cũng có một số rất ít sống riêng lẽ hòa nhập cùng cộng đồng người Nam bản địa hoặc các dân tộc khác. Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy rằng, những khu vực có đông người gốc Bắc di cư trong đợt này tập trung nhiều nhất ở các địa bàn của tỉnh Đồng Nai và rất nhiều trong số đó tập trung ở một số địa bàn thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có địa bàn Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Đây cũng là địa bàn nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài. 11 Khác với đợt di dân năm 1941, đợt di dân này gồm nhiều thành phần rất phức tạp, có cả những người trí thức và những người có xu hướng chính trị tiêu cực. Qua khảo sát ở địa bàn Tân Hiệp và Kiên Lương của tỉnh Kiên Giang, chúng tôi thấy đa số di dân vào Nam vì lí do chính trị trong đợt này hiện nay đã di cư sang Mỹ, nhất là những người định cư ở địa bàn Kiên Lương của tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, trong phạm vi khảo sát của đề tài, chúng tôi xin phép không đề cập nhiều đến vấn đề lí do chính trị hay tôn giáo của những người di cư đợt này.
Thiết nghĩ, đó là vấn đề nhạy cảm và cũng không cần thiết cho phần tiền đề để đi vào việc tìm hiểu sinh hoạt văn học dân gian của họ. Đợt di dân thứ ba là đợt di dân khoảng từ năm 1978 đến mùa hè năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc nước ta nổ ra, một số cư dân ở nhiều địa bàn miền Bắc đã lần lượt di cư vào Nam. Hầu hết những người di dân trong đợt này là tránh họa chiến tranh, một số khác vì lí do kinh tế khó khăn nên vào Nam lập nghiệp. Khi vào Nam, họ định cư ở nhiều nơi, nhiều tỉnh ở miền Nam.
Chính vì vậy, họ khác với các đợt di dân trước, những người di dân trong đợt này có quê gốc ở nhiều tỉnh khác nhau và ít sống tập trung thành khu vực như các nhóm di dân trước đó. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ở tỉnh Kiên Giang duy chỉ có địa bàn Kiên Lương là có nhóm cư dân này sống tập trung tương đối cao. Ngoài ba đợt di cư nói trên, khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng còn có nhiều đợt di cư khác với quy mô nhỏ lẻ. Những nhóm cư dân này vào Nam nhiều nhất vào những năm tám mươi đến nay với nhiều lí do nhưng nhiều nhất vẫn là đoàn tựu gia đình và mục đích kinh tế.
Một nhóm người dân gốc Bắc khác vào Nam cũng tương đối đông là những cán bộ công viên chức chuyển công tác và bộ đội vào Nam sau 1975. Nhìn chung, trên địa bàn Kiên Giang, những nhóm này định cư ở nhiều nơi nhưng nhiều nhất vẫn là các khu vực thuộc các địa bàn nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài này, đặc biệt chiếm tỉ lệ cao nhất ở địa bàn huyện Kiên Lương. Đặc điểm của các nhóm cư dân phía Bắc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 1. Đặc điểm của nhóm cư dân thứ nhất 1.
Vài nét về lịch sử vùng đất Nam Thái Sơn Là một xã thuộc huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Nam Thái Sơn có rất đông người dân phía Bắc di cư. Về vị trí địa lí, xã Nam Thái Sơn nằm cặp theo kinh xáng Tri Tôn về phía bờ bắc kinh xáng Rạch Giá-Hà Tiên. Xã có diện tích tự nhiên 154.960 km2 với dân số trên 3000 người. Phía Bắc giáp xã Vọng Thê và Cô Tô-tỉnh P P An Giang, Nam giáp thị trấn Hòn Đất, Đông giáp xã Mỹ Hiệp Sơn-tỉnh Kiên Giang và phía Tây giáp xã Bình Sơn-Kiên Giang.
Trước đây, vùng này là rừng rậm, đất thấp. Trải qua một thời gian dài với nhiều biến đổi của thiên nhiên, nhất là thời kì”hải thoái”(biển lùi), lại thêm được nước sông Cửu Long mang phù sa về bồi dần, cây tràm phát triển mạnh. Rừng xanh tươi tốt nhưng gần như không có người ở. Cho đến khi Trấn Hà Tiên được thành lập thì vùng đất này vẫn còn hoang vu, nhưng cư dân từ các vùng trên, phía An Giang, cũng bắt đầu lần xuống khai hoang lập nghiệp.
Đến đầu thế kỉ XIX, dưới triều Nguyễn, khu vực này thuộc tổng Kiên Hảo, huyện Kiên Giang, tỉnh Hà Tiên. Đến khi thực dân Pháp xâm chiếm miền Nam, chúng chia Nam kì thành 6 tỉnh, trong đó tỉnh Rạch Giá gồm 6 quận: Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, Long Mỹ và Phước Long. Các làng Thổ Sơn, Sóc Sơn, Mỹ Lâm đều thuộc quận Châu Thành. Địa giới của các làng bấy giờ rất rộng.
Làng Sóc Sơn kéo dài từ Sóc Xoài đến Bình Sơn, bao trùm cả Nam Thái Sơn ngày nay. Từ khoảng những năm 20 của thế kỉ XX, thực dân Pháp cho đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên và kênh Mốp Giăng (còn gọi là kênh Sóc Xoài-Ba Thê), kênh Tri Tôn và kênh Tám Ngàn để phục vụ cho việc khai thác rừng tràm và phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, thời gian này, các đường giao thông nối liền Rạch Giá, Hà Tiên và các vùng phụ cận còn được mở. Kênh Xáng Tri Tôn được đào từ Tri Tôn (Xà Tón) thuộc tỉnh An Giang xuống Rạch Giá-Hà Tiên nên chỗ khu vực nối có địa danh là Ngã Ba Tri Tôn.
Thời gian này, nơi đây bắt đầu có dân cư người kinh và 13 người khmer bản địa tập trung về ở hình thành xóm Tri Tôn. Khi kênh Tri Tôn hình thành, nhân dân các nơi kéo về khai hoang lập nghiệp, nhất là dân vùng Xà Tón, Ba Thê, lấn dần từ phía An Giang xuống ở dọc theo kênh xáng, mở đất làm ruộng hình thành những khu dân cư mới. Từ những năm 1930, một số người hoạt động cách mạng ở các nơi khác bị chính quyền thực dân khủng bố đã tìm về đây trú ngụ. Thế nhưng, vùng đất này có cư dân đông đúc, trù phú như ngày nay phải kể đến những người di dân từ Bắc vào Nam.
Vài nét về lịch sử di dân của nhóm cư dân thứ nhất Như đã giới thiệu ở phần trước, vào khoảng những năm 30, 40 của thế kỉ XX, chính quyền thực dân cho phép số tư sản người Pháp và địa chủ người bản xứ đến địa bàn xã Nam Thái Sơn ngày nay khai thác rừng tràm và mở các đồn điền trồng lúa.