MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây để phục vụ nhu cầu thực phẩm cho xã hội đặc biệt phục vụ cho việc xuất khẩu thịt lợn, phong trào nuôi lợn thịt hƣớng nạc đã và đang phát triển mạnh mẽ theo hình thức trang trại ở nhiều địa phƣơng và đã đem lại nguồn thu đáng kể cho ngƣời chăn nuôi. Để cung cấp lƣợng giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết. Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng nhƣ tập trung ở gia đình.
Đối với lợn nái, nhất là lợn ngoại đƣợc chăn nuôi theo phƣơng thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn nái với điều kiện khí hậu nƣớc ta còn kém. Mặt khác, trong quá trình đẻ, lợn nái bị các loại vi khuẩn nhƣ: Streptococus,Staphylococcus,E.coli…Xâm nhập và gây nên một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ nhƣ: Viêm âm đạo, âm môn, tiền đình… Đặc biệt là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ. Nếu không đƣớc điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn đến các bệnh kế phát nhƣ: Viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng kế phát và chết…Vì vậy viêm tử cung của đàn lợn nái ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng đàn lợn giống nói riêng đồng thời ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của ngành chăn nuôi lợn nói chung. Từ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:"Khảo sát tình hìnhmắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn Thiệu Phú - Công ty Cổ phần Nông sản Phú Gia" 1.
Mục tiêu, yêu cầu 1. Mục tiêu - Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại sinh sản tại trại lợnThiệu Phú - Công ty Cổ phần Nông sản Phú Gia. - Lựa chọn phác đồ điều trị hiệu quả cho bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại trang trại. Yêu cầu - Xác định đƣợc tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung trên đàn nái ngoại sinh sản tại trang trại.
- Xác định đƣợc kết quả của các phác đồ điều trị lợn mắc bệnh viêm tử cung. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài này cho biết tỷ lệ bệnh và hiệu lực của một số phác đồ điều trị làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo tại trại Thiệu Phú thuộc Công ty Cổ phần Nông sản Phú Gia. Ý nghĩa thực tiễn - Cung cấp những thông tin cụ thể về tỷ lệ nhiễm bệnh theo nhóm tuổi,số lứa đẻ, triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm tử cung và hiệu lực điều trị của một số phác đồ điều trị.
- Trong thực tiễn, giúp cho chúng ta chẩn đoán sớm và đƣa ra biện pháp phòng trị hợp lý, hạn chế thiệt hại trong chăn nuôi cho cơ sở sản xuất. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý sinh dục cái 2.
Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục cái Bộphận sinh dục của lợn nái đƣợc chia thành bộphận sinh dục bêntrong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bênngoài: Âm môn, âm vật, tiền đình (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003)[7]. - Bộ phận sinh dục bên trong * Buồng trứng (Ovarium) Buồng trứng của lợn gồm một treo ở cạnh trƣớc dây chằng rộng, nằmtrong xoang chậu. Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhƣng phần lớncóhình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Buồng trứng cóhai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hoocmon: Estrogen,Progesteron vàInhibin.
Các hoocmon này tham gia vào việc điều khiển chukỳ sinh sản của lợn cái. Phía ngoài của buồng trứng đƣợc bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi,chắc nhƣ màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng đƣợc chia làm 2 miền:Miền vỏ và miền tủy. Miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tácdụng về sinh dục vì nó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng.
Miền tủy của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết. Trên buồng trứng có từ 70.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tƣơng đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trƣởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Trần Thị Dân, 2004) [2]. * Ống dẫn trứng (Oviductus) Ống dẫn trứng (vòi Fallop) đƣợc treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn: + Tua điểm: Có hình gống nhƣ tua liềm.
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng. +Phồng ống dẫn trứng: Đoạn ống giãn rộng ra xa tâm. +Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung. * Tử cung (Uterus) Tử cung nằm trong xoang chậu, dƣới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung ở phía trƣớc xoang chậu.
Tử cung đƣợc giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và đƣợc giữ bởi các dây chằng. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung, sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng. Thân tử cung dài 3-5cm. Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lƣợc, thông với âm đạo.
Vách tử cung gồm 3 lớp đƣợc cấu tạo từ ngoài vào trong: Lớp tƣơngmạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc. * Âm đạo (Vagina) Nguyễn Xuân Tịnh và Nguyễn Xuân Bình (1996) [19],cho biết: Âm đạo lợn có chiều dài 10 -12cm. Âm đạo nối sau tử cung, trƣớc âm hộ, đầu trƣớc giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh. Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi qua trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung.
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: Lớp tổ chức liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm đạo liên kết với các lớp cơ tử cung. - Bộ phận sinh dục bên ngoài * Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis) Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm: Màng trinh và hành tiền đình.
Sau màng trinh là lỗ niệu đạo. * Âm vật (Clitoris) Âm vật đƣợc phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, từ đó khuyến cáo các thú yviên chú ý khi thụ tinh nên kích thích lên âm vật để gây mê ì cho nái động dục làm tăng hiệu quả thụtinh. * Âm hộ (Vulva) Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dƣới hậu môn và ngăn cách với nó bởi vùng hội âm. Bên ngoài có 2 môi dính với nhau ở mép trên và mép dƣới.
Môi âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái -Sự thành thục về tính: Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thƣờng sớm hơn, nên ngƣời ta thƣờng bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm mẹ. Sự thành thục về tính đƣợc nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận bên ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh.
Ðầu tiên hai mép âm môn sƣng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và dịch keo dính. Tƣơng ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hƣng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì. Cùng với sựbiểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt buồng trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch. - Chu kỳ tính: Khi gia súc thành thục về tính dục, những biểu hiện tính dục đƣợc biểu hiện ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu.
Ðây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tƣợng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, trứng chín và nổi cộm lên bềmặt buồng trứng. Khi noãn bàovỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ. Sở dĩ trứng rụng có tính chu kỳ: Dƣới sự điều khiển của thần kinh trung ƣơng, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó rụng trứng, hình thành thể vàng.
Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc đƣợc thụ thai, nhƣng nó chỉtồn tại từ 3-15 ngày nếu trứng không đƣợc thụ tinh, sau đó nó teo đi dƣới tác dụng của PGF2 làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không đƣợc cung cấp chất dinh dƣỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24 giờ, kết quả làm hàm lƣợng progesteron giảm, lúc này FSH và LH đƣợc giải phóng làm trứng phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo. Một chu kỳ động dục đƣợc tính từ lần thải trứng trƣớc đến lần thải trứng sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày.
Khi tiến hành phối giống nếu có thai thì lợn không động dục lại.