CHƯƠNG 1 PHAN MEM LIBOL 6.0 ĐÓI VỚI HOẠT DONG THONG TIN — THU VIEN TAI TRUONG DAI HQC KINH TE QUOC DAN 1. Phần mềm Libol 6. Sự ra đời của phần mềm Libol' Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão ngày nay thực chất là cuộc cách mạng công nghệ. Khoa học phát triển đã thu hút một bộ phận lớn nhân lực vào lĩnh vực này làm cho đội ngũ những người làm khoa học gia tăng nhanh chóng.
Lực lượng những người làm khoa học tăng lên theo cấp số cộng thì tài liệu khoa học và những sản phẩm nghiên cứu của họ tăng lên theo cấp số nhân. tạo nên một khối lượng thông tin không lỗ và không ngừng phát triển, dẫn đến hiện tượng bùng nỗ thông tin. Ngoài ra, cộng đồng khoa học được bỗ sung thêm nhiều. người dùng tin khác nhau: các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, các nhà công nghệ, các nhà giáo dục, các nhà sản xuất kinh doanh.
Họ không chỉ là người dùng tin, mà còn là những người sản xuất ra các thông tin mới. Sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức khoa học tác động mạnh mẽ tới các hoạt động của các cơ quan thông tin thu viện. Nó tác động tới cơ cấu của kho tài liệu, làm cho số lượng, chủng loại tài liệu tăng lên gấp bội. Thêm vào đó nhu cầu đồi hỏi phải rút ngắn đáng kể thời gian hữu ích của một tài liệu làm cho các nhà quản ý phải thường xuyên bô sung vốn tài liệu và không ngừng phải xử lý chúng, hoặc bằng thủ công hoặc bằng phương tiện tự động hóa.
Sự bùng nô thông tin gắn liền với sự bùng nỗ của công nghệ đặc biệt trên ba lĩnh vực có mối liên hệ chặt chẽ với công tác thông tin — thư viện dé 1a tin hoe, viễn thông và vi xử lý - hạt nhân của công nghệ thông tin hiện đại Với việc ứng dụng máy tính điện tử trên thế giới trong xử lý thông tin tư liệu diễn ra trong vòng 40 năm trở lại đây đã đem lại hiệu quả vô vùng to lớn: tập trung 14 thông tin trong những bộ nhớ lớn, những cơ sở dữ liệu (CSDL) và ngân hàng dữ liệu, tăng nhanh tốc độ ở tất cả các công đoạn xử lý thông tin. Sự phát triển của. những bộ nhớ lớn truy nhập trực tiếp tạo ra khả năng tra cứu nhanh, tại thời điểm bắt kỳ những thông tin mà người sử dụng tin yêu cầu. Sự kết hợp giữa máy tính và viễn thông dẫn đến sự hình thành, phát triển các hệ thống và mạng thông tin tự động hóa, cho phép các thư viện liên kết với nhau.
trên mạng máy tính đề chia sẻ nguồn lực thông tin. Ở nhiều thư viện trong và ngoài nước, người ta đã xây dựng các mục lục công cộng truy nhập trực tuyến, gọi tắt là OPAC (Online Public Access Catalog). Đó là các CSDL thư mục được khai thác trên mạng, giúp người sử dụng có thể truy cập các thông tin thư mục một cách trực tiếp mà không cần sự hỗ trợ trung gian của các cán bộ thư viện. “Trong lĩnh vực thông tin - thư viện, các nhà thư viện thế giới đã thực sự đặt chan vào thế giới của thư viện điện tử từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 với các ngân hàng dữ liệu không lồ của Dialog, Pascal.
Còn ở Việt Nam, sau năm. 1997, với việc đưa Internet vào ứng dụng rộng rãi đã tạo đà khởi đầu cho sự phát triển mới, các thư viện Việt Nam bắt đầu áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào. các hoạt động nghiệp vụ. Đối với các hệ thống thông tin, sự phát triển chỉ được gọi là đồng bộ khi và chỉ khi hệ thống thông tin đó có đủ 2 thành phần: nội dung thông tin đầy đủ được tổ chức trong các CSDL và phần hạ tầng CNTT (bao gồm máy tính và hệ thống mạng) đảm bảo về mặt công cụ kỹ thuật đề truyền tải thông tin tới người sử dụng.
Và tin học hóa hoạt động thông tin — thư viện thực sự là xu thế phát triển tất yếu của các cơ quan thông tin - thư viện hiện nay. Tại Việt Nam, trong, những năm qua việc áp dụng CDS/ISIS = một sản phẩm miễn phi do UNESCO phat triển, đã bước đầu đem lại hiệu quả xử lý, tìm kiếm thông tin trong ngành thư viện. Hầu hết các thư viện đã tin học hóa đều sử dụng CDS/ISIS là hệ quản trị CSDL cho. các CSDL thư mục của mình.
Đây là một thuận lợi khi triển khai một hệ quản trị thư viện tích hợp (HỌTTVTH) do các thư viện đã có sẵn CSDL thư mục. Tuy nhiên có một một số trở ngại liên quan đến vấn đề trao đôi các bản ghi thư mục, do không, thống nhất bảng mã tiếng Việt và không thống nhất khổ mẫu miêu tả tài liệu. 15 Với bồi cảnh trên, việc ứng dụng một HỌTTVTH là cần thiết và hệ đó phải giải quyết các vấn đề đối với các thư viện tại Việt Nam cũng như hòa nhập với xu hướng của thế giới. Một hệ HQTTVTH phải đáp ứng được các yêu câu: ~ Là một hệ thống tích hợp để tự động hóa mọi nghiệp vụ của thư viện truyền thống, cộng thêm các yếu ố của thư viện số.
~ Đáp ứng những yêu cầu đặc thù đối với công tác biên mục, tuân theo các chuẩn quốc tế: khô mẫu trao đổi ISO 2709, khổ mẫu biên mục đọc may MACR 21, chuẩn tìm kiếm Z39.50, phân loại DDC, UDC, BBK. ~ Cung cấp khả năng tra cứu cho các bạn đọc đến thư viện hay từ xa qua Internet. ~ Có khả năng trao đôi thông tin thư mục với các hệ thống khác trên thế giới cũng như tại Việt Nam. ~ Ung dụng mã vạch trong các nghiệp vụ.
~ Có khả năng quản lý dữ liệu số, bao gồm cả lưu trữ, biên mục và cung cấp khả năng truy cập trực tuyến cho bạn đọc. ~ Có hệ thống báo cáo tự động và các phân tích thống kê từ các hoạt động của thư viện. ~ Có độ an toàn và bảo mật cao. ~ Có công nghệ hiện đại, đảm bảo đầu tư lâu dài.
~ Có đội ngũ hỗ trợ có khả năng dao tao, bảo trì, phát triển, nâng cấp sản phẩm. Nhay bén với xu hướng phát triển và nhu cầu áp dụng CNTT vào việc chuân hoá các quy trình nghiệp vụ thông tỉn-thư viện (TTTV), một số công ty tin học đã nghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng phục vụ cho tô chức, quản lý và khai thác thông tin. Trong số đó có thể kể đến các công ty tên tuôi như Lac Việt với phần mềm Vebrary, VNNesoft với Elib, Tỉnh vân với phần mềm Libol và CMC với phần mềm iLib. Libol là giải pháp phần mềm tự động hóa thư viện tổng thê với đầy đủ các module chức năng, có khả năng quản lý được các 16 loại tài liệu đa dạng.
Đề thích ứng với thị trường Việt Nam các phần mềm này đều hỗ trợ tiếng Việt và có khả năng chuyển đổi CSDL tir CDS/ISIS, hỗ trợ nghiệp vụ quán lý thư viện phủ hợp với điều kiện và hoàn cảnh của thư viện Việt Nam. Libol có một số đặc điểm sau: “Thứ nhất: Libol là phần mềm tích hợp và quản lý hầu hết các hoạt động của thư viện với nhiều phân hệ thông qua trình duyệt WEB, cho phép hoàn thiện công tác tin học hóa thư viện. Thứ hai: Libol ngoài việc cho phép sử dụng nhiều chuẩn phân loại khác nhau như chuẩn UDC, DDC, LCC, người dùng còn tiếp cận với nhiều ngôn ngữ khác nhau tuân theo bảng mã UNICODE. “Thứ ba: Nhờ chức năng riêng biệt của công Z39.50, phần mềm Libol cho.
phép kết nói trao đôi thông tin giữa các thư viện trong và ngoài nước. Thứ tư: Ngoài việc tra cứu CSDL, phần mềm Libol đảm nhận tự động hóa. các khâu trong hoạt động của thư viện, theo hướng tin học hóa, tạo tiền đề xây dựng. thư viện điện tử [7] 1.
Sự phát triển của phần mềm Libol Ngay từ khi ra đời phần mềm Libol đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ các thư viện và được các trung tâm thông tin tư liệu đánh giá rất cao do những tính năng ưu việt của nó. 'Vào năm 1997, phiên bản đầu tiên của phần mềm quản lý nghiệp vụ thư viện Libol được xây dựng, ban đầu Libol phiên bản 1.0 chi có 3 phân hệ bao gồm: "phân hệ biên mục”, “phân hệ tra cứu” và “phân hệ quản trị”. Với 3 phân hệ này Libol được ứng dụng tại thư viện nhỏ của các cơ quan và mang tính chất quản lý đơn thuần. Sau một thời gian Libol được sử dụng tại Thư viện của Ban Chỉ đạo chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin, sản phẩm Libol phiên bản 1.0 cho thấy chưa.
thê đáp ứng với yêu cầu thực tế tại những thư viện có nhiều bạn đọc và quản lý thư. viên chuyên nghiệp. 7 “Trên cơ sở đánh giá kết quả thử nghiệm và những yêu cầu từ Thư viện Ban Chỉ đạo chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin kết hợp với những nghiên cứu tại một số thư viện chuyên ngành, năm 1999 Libol phiên bản 1.0 đã được nâng cấp lên thành phiên bản 2.0 với đầy đủ các tính năng khai thác và quan ly cho những thư viện chuyên ngành và thư viện công cộng.0 có 6 phân hệ, “phan hệ tra cứu”, “phân hệ biên mục”, “phân hệ bỗ sung”, “phân hệ bạn đọc”, “phân hệ mượn trả”, “phân hệ quản lý” người dùng. Những phân hệ này đã đáp ứng được tắt cả những yêu cầu của nghiệp vụ quản lý thư viên chuyên ngành, thư viện của các trung tâm thông tin và thư viện công cộng.
Giai đoạn nay Libol da được sử dụng ở một số thư viện như Thư viện của Học viện kỹ thuật quân sự, Thư viện của Bảo tàng lịch sử.đặc biệt là việc chạy thử Libol tại Thư viện Quốc gia để quản lý nghiệp vụ thư viện của một thư viện lớn hàng đầu tại Việt Nam đã giúp cho công ty Tinh Vân nhận biết được những yếu điểm của Libol phiên bản 2. Cùng với sự hợp tác của Thư viện Quốc gia và Trung tâm Thông tin tư liệu Khoa học công nghệ Quốc gia, Công ty Tinh Vân da đầu tư nâng cấp phần mềm Libol phiên bản 2.0 lên thành phiên bản 3.0 với một loạt chức năng quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho quản lý nghiệp vụ thư viện tại các thư viện lớn với số đầu ấn phẩm. lên tới hàng triệu bản ghi bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.0 được kết hợp.