CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI TRUYỆN CỔ Ê ĐÊ 1. Vài nét về dân tộc Ê đê 1. Địa bàn cư trú và tổ chức xã hội Người Ê Đê hay Đêgar, còn có các tên gọi khác là Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), Êgar, là tộc người có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, ngữ hệ có dân số khá đông trong khu vực Đông Nam Á. Tùy theo vùng cư trú, người Ê đê vẫn có những nét khác biệt ít nhiều về phương ngữ, sinh hoạt văn hóa, tạo nên các nhóm địa phương khác nhau như nhóm Kpă, Atham, Mdthur, Ktul, Bih.
Tỉnh Đăk Lăk là địa bàn sinh sống của 40 dân tộc thiểu số khác nhau. Theo số liệu điều tra của Ban dân tộc tỉnh Đăk Lăk, người Ê đê ở Đăk Lăk vào tháng 12/2003 là 271. Đồng bào Ê đê sống tập trung ở vùng trung tâm Đăk Lăk – thành phố Buôn Mê Thuột và các huyện Krông Pach, Krông Buk, Easup, Mdrah. Ngoài ra còn ở một vài tỉnh lân cận như phía Nam tỉnh Gia Lai, phía Tây Khánh Hoà, Phú Yên.
Người Ê đê có quan hệ gần gũi với các dân tộc láng giềng cùng chung một nguồn gốc Mã lai – Đa đảo như Chăm, Gia rai, Churu, Raglai và dân tộc Mnông cùng sinh sống trên cao nguyên Đăk Lăk. Trong đó mối quan hệ với đồng bào Giarai, Mnông có thể xem là gần gũi hơn cả, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Một số trường ca, truyện cổ phổ biến của người Ê đê cũng thấy ở người Giarai, Mnông do quá trình cộng cư tương tác văn hóa. Tổ chức xã hội của người Ê đê theo chế độ mẫu hệ.
Người phụ nữ là người làm chủ trong gia đình, con cái mang họ mẹ, con trai không có quyền được hưởng thừa kế. Đàn ông cư trú bên nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình và khi chết thì được mang về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ. Người Ê đê lấy buôn làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản tương đương với khái niệm làng của người Việt.
Kết cấu buôn truyền thống là các gia đình lớn mẫu hệ và một số gia đình nhỏ, các gia đình trong buôn đều có quan hệ hữu cơ với nhau hoặc cùng thân tộc hoặc cùng huyết thống trong quan hệ hôn nhân. Buôn là không gian tụ cư của nhiều ngôi nhà dài, quy mô lớn nhỏ của buôn phụ thuộc vào số gia đình mẫu hệ sống trong buôn. Buôn nhỏ có ít nhất từ 20 đến 40 ngôi nhà, buôn lớn khoảng từ 50 đến 100 ngôi nhà. Mỗi buôn có một người đứng đầu gọi là khua buôn.
Khua buôn là người được quyền tổ chức cúng bến nước (pô tuh pin êa) hằng năm. Trước đây, khi có dịch bệnh hoặc một tai họa nào đó xảy ra cho buôn làng, người Ê đê lại chọn một địa thế mới để dựng buôn mới. Số lượng các gia đình mẫu hệ này phải có giới hạn để thuận tiện cho những lần di chuyển. Hầu hết các buôn ngày nay đều trải qua nhiều lần xây dựng lại do nhiều nguyên nhân nên hình thức tổ chức và qui mô của buôn của buôn có những đổi thay tùy theo từng thời kì.
Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế xã hội, cơ cấu tổ chức buôn của người Ê đê có những đổi thay. Nhiều buôn Ê đê có khuynh hướng định canh định cư nên số gia đình nhỏ mẫu hệ trong buôn có thể nhiều hơn. Buôn của người Ê đê thường được xây dựng gần các trục lộ chính theo hướng Bắc Nam trên những địa thế tương đối bằng phẳng cao ráo, gần nguồn nước, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Bộ máy điều hành buôn gồm có khua buôn (chủ bến nước), pô phat kđi (xử kiện), pô iêô yang (cúng thần).
Các thành viên này hỗ trợ khua buôn điều hành tổ chức xã hội theo từng trọng trách của mình. Quan hệ giữa khua buôn và các thành viên trong buôn là quan hệ hai chiều, khua buôn phải là người công minh, chính trực, bình đẳng và dân chủ. Khi quy định một việc hệ trọng liên quan đến quyền lợi của cộng đồng, khua buôn đều phải thông qua ý kiến dân chủ của buôn theo luật tục. Vai trò của khua buôn trong xã hội Ê đê sẽ càng được nâng lên thông qua uy tín của gia đình phía vợ.
Có thể nói chức vụ khua buôn thuộc về dòng nữ, tức là thuộc về gia đình vợ, còn khua buôn chỉ là người đại diện gia đình điều hành công việc của buôn. Thông qua vai trò và quyền lực của khua buôn, có thể nói rằng đằng sau người khua buôn chính là sự điều hành của người phụ nữ của buôn làng. Người phụ nữ Ê đê là người có vai trò trực tiếp đối với gia đình mẫu hệ đồng thời họ có vai trò gián tiếp đối với thiết chế tổ chức xã hội. Những biểu hiện về sắc thái văn hóa Như đã nói, trong số những dân tộc định cư lâu đời ở Đăk Lăk, dân tộc Ê đê có số dân đông nhất, có nền văn hóa giàu bản sắc truyền thống.
Đời sống của người Ê đê gắn bó mật thiết với núi rừng. Buôn làng của họ nằm giữa núi rừng, tồn tại giữa thiên nhiên hùng vĩ. Trong xã hội truyền thống của họ, từ nhà cửa đến chuyện ăn mặc, vui chơi, lễ hội cho đến khi trở về cát bụi cũng không tách khỏi núi rừng. Rừng vì vậy là mẫu số chung của văn hóa Ê đê.
Nói về bản sắc văn hóa của dân tộc Ê đê, có thể nhận định đó là nền văn hóa mang đậm tính chất mẫu hệ. Bước vào các buôn làng của người Ê đê sinh sống, người ta sẽ ấn tượng ngay về những ngôi nhà dài có khi phải đến cả trăm mét. Đặc biệt nhà dài của họ có hình dáng giống chiếc thuyền mang đậm hình ảnh ông bà tổ tiên ở vùng hải đảo khi xưa đã lênh đênh trên biển cả để tìm đất sống. Ngôi nhà dài đã được các sử thi ca ngợi: dài như tiếng chiêng ngân, dài bằng một hơi ngựa chạy, dài đến nỗi con chim bay mỏi cánh cũng không hết… Trong những ngôi nhà dài đó là cả đời sống của một gia đình mẫu hệ.
Những thành viên sống trong nhà dài gồm có hai vợ chồng cùng với con cháu ruột và con của chị em gái trong nhà, cùng với những người đàn ông (anh hoặc em trai) chưa vợ hoặc li dị vợ, và cả những người là con nuôi. Người làm chủ căn nhà này là người phụ nữ, không phải người đàn ông. Bà chủ nhà được xem như bà tổ của dòng họ (còn gọi là “nồi cơm cái” hay “nồi cơm mẹ”). Ngôi nhà dài sẽ là nơi ở của tất cả các thành viên vốn là hậu duệ của bà tổ.
Bà chủ nhà cũng như bao người phụ nữ bình thường khác, làm công việc nội trợ, trông coi con cháu… nhưng lại có trách nhiệm và uy quyền khá lớn. Bà cùng với người chồng có bổn phận giảng giải và dạy bảo cho con cháu về phong tục tập quán của dân tộc mình. Bà điều hành công việc trong gia đình như quản lí của cải, phân chia tài sản. Trong gia đình hoặc dòng họ, nếu cần quyết định một việc trọng đại nào đó như mua bán, cưới hỏi, nếu không thông qua ý kiến của nữ chủ nhà thì không được phép thực hiện.
Giả sử người con trai của nữ chủ nhà muốn kết hôn, nếu chỉ có những người anh em trai trong gia đình đồng ý mà không có sự chấp thuận của bà và các chị em gái trong nhà, đám cưới sẽ không được tổ chức. Khi làm lễ cúng trong gia đình, bà chủ nhà là người đầu tiên cầm cần rượu rồi đến những người phụ nữ trong dòng họ rồi sau cùng mới đến lượt những người anh em trai của bà. Và trong các nghi lễ nông nghiệp, người phụ nữ làm chủ dòng họ cũng là người thực hiện các thao tác như cầm cần rót rượu, mặc dù người đàn ông là người tổ chức các nghi lễ đó. Khi bà chủ nhà đã già yếu hoặc qua đời, vai trò “nồi cơm cái” lại được truyền cho người chị gái cả trong gia đình.
Và người chị gái cả này cũng đóng vai trò như một người mẹ trong gia đình. Và nếu người chị gái cả này là một bà góa đã già thì người con gái cả của bà sẽ thay mặt bà giữ quyền người mẹ. Cách tổ chức sinh hoạt cũng như cấu trúc của gia đình Ê đê trong ngôi nhà sàn đã nói lên một cách tổng thể về sự chi phối của dòng nữ trong gia đình cũng như trong cộng đồng. Trong lĩnh vực hôn nhân, người phụ nữ cũng là người chủ động.
Sau đám cưới, người đàn ông sẽ về cư trú bên gia đình nhà vợ. Người Ê đê ngày trước có một tập tục khá độc đáo là tục nối dây (chuê nuê). Tập tục hôn nhân này nhằm gìn giữ sự liên minh giữa các dòng họ và để bảo vệ tài sản phía dòng họ nữ. Cụ thể là khi vợ chết, chồng có thể lấy em vợ hay chị vợ.
Còn khi người chồng chết, người vợ sẽ lấy anh trai hoặc em trai chồng… Ngày nay thì tập tục này không còn nữa. Về tín ngưỡng, người Ê đê theo tín ngưỡng đa thần. Họ quan niệm mọi vật đều có yang (hồn). Thờ cúng là một hoạt động chi phối sâu sắc đời sống của người Ê đê.
Họ có hai hệ thống nghi lễ chính: nghi lễ vòng đời người và nghi lễ nông nghiệp. Nghi lễ vòng đời người gồm có lễ cầu sinh nở dễ dàng, đặt tên, cầu chúc sức khỏe…Nghi lễ nông nghiệp gồm có lễ tìm đất, cúng thần gió, cúng cào cỏ, trỉa lúa, cầu mưa, mừng lúa mới… Các nghi lễ nông nghiệp xuất hiện đa dạng không chỉ để thỏa mãn đời sống tinh thần của cộng đồng mà còn là sự thể hiện ý thức trân trọng của người Ê đê đối với tài nguyên đất, nước và rừng. Lễ hội là hoạt động văn hóa thường thấy ở dân tộc Ê đê. Họ có nhiều lễ hội trong đó lễ bỏ mả có thể xem là lễ hội độc đáo nhất.
Hầu hết các lễ hội của người Ê đê không thể thiếu một nhạc cụ quan trọng chính là cồng chiêng. Cồng chiêng không chỉ là một nhạc cụ truyền thống của người Ê đê. Trong quan niệm của họ, cồng chiêng chính là một phương tiện thiêng liêng để con người giao tiếp với thần linh. Âm thanh cồng chiêng gắn bó với mỗi người Ê đê từ lúc chào đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.