Chương 1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG MOTIF TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Motif được xem là một yếu tố cấu thành cốt truyện ổn định, bền vững và lặp đi lặp lại trong các sáng tác văn học, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian nhằm thể hiện một tư tưởng, một quan niệm nào đó của tác giả. Truyện cổ tích hiện đại cũng có sự tham gia của rất nhiều motif. Ở chương này, chúng tôi đi vào khảo sát hệ thống motif và trình bày đặc điểm của chúng. Nhận diện hệ thống motif trong truyện cổ tích hiện đại Việt Nam 1.
Cơ sở nhận diện motif trong truyện cổ tích hiện đại Việt Nam Thuật ngữ motif có nguồn gốc ngoại lai, được giới nghiên cứu ở Việt Nam sử dụng khá sớm và thường xuyên, nhất là trong lĩnh vực văn học dân gian. Theo lý thuyết hiện hành, motif là khái niệm cơ bản trong nghiên cứu truyện cổ dân gian. Người có công đưa ra khái niệm motif như một phạm trù trong nghiên cứu văn học là A. Vexelopxki – nhà folklore người Nga.
Sau đó, nhờ Antti Aarne và Stith Thompson – hai nhà folklore người Phần Lan, motif trở thành thuật ngữ quốc tế. Trong Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif, ý kiến của Stith Thompson đã được Nguyễn Tấn Đắc đề cập tới như sau: “Motif là thuật ngữ chỉ bất kì một phần nào mà ở một tiết có thể phân tích ra được. (…) Lĩnh vực mà motif được nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể dân gian như các loại truyện cổ tích, truyền thuyết…” [8; tr. Ở Việt Nam, người đọc có thể tìm thấy lí thuyết về motif được trình bày ở những công trình như: Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, Văn học dân gian Việt Nam,.
Trong các công trình này, khái niệm về motif được xem là những yếu tố đã được hình thành ổn định và 9 được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật. Sách Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi tổ chức biên soạn đưa ra quan niệm về motif như sau: “Motif là những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định, bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian” [49, tr. Nguyễn Thái Hòa trong Từ điển tu từ - Phong cách thi pháp học đã viết khá ngắn gọn mà đầy đủ về motif. Theo ông, trong nghiên cứu văn học, motif có thể được hiểu theo những cách sau: a) Chủ đề được lặp đi lặp lại và triển khai ở người này hay người khác; b) Cốt truyện được lặp đi lặp lại; c) Những yếu tố không phân nhỏ được lặp đi lặp lại như một hằng thể [16, tr.
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng, motif vừa mang ý nghĩa nghệ thuật (một hình thái cấu tạo hình tượng), vừa mang ý nghĩa nội dung (một yếu tố thể hiện chủ đề). Tác giả viết: “Những môtip ấy vừa mang tính phổ biến có ý nghĩa khái quát (lặp đi lặp lại ở nhiều truyện các dân tộc) vừa mang tính độc đáo có ý nghĩa cụ thể hóa, tùy theo hoàn cảnh địa lí, lịch sử, văn hóa trong từng dân tộc” [27; tr. Như vậy, truyện cổ tích dân gian được xây dựng thành những motif – kiểu truyện mà mỗi motif lại có những đặc trưng riêng về kết cấu, nhân vật. Từ đây, chúng tôi nhận thấy motif là một yếu tố thi pháp cơ bản của truyện cổ tích.
Từ những nhận định trên chúng tôi hiểu: Motif là một dạng hình thức nghệ thuật có tính ổn định, tồn tại dưới dạng khuôn mẫu và được sử dụng trong nhiều thể loại truyện khác nhau, trong đó nhiều nhất là truyện cổ tích. Nói cách khác, motif là một công thức được sử dụng nhiều lần, liên quan chặt chẽ tới cốt truyện của tác phẩm. Kết quả nhận diện motif trong truyện cổ tích hiện đại Việt Nam Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các tác giả truyện cổ tích 10 hiện đại có sự kế thừa motif từ truyện cổ tích dân gian và sáng tạo những motif mới. Khi nhìn nhận như vậy, chúng tôi chia motif trong truyện cổ tích hiện đại thành hai nhóm: những motif kế thừa từ nguồn truyện kể dân gian và những motif là sáng tạo mới của các nhà văn (Phụ lục 2).
Với cách chia đó, chúng tôi sẽ mô tả đặc điểm của các motif và đặc biệt là chỉ ra những điểm mới trong từng motif để thấy được sự phát triển của truyện cổ tích hiện đại Việt Nam. Những motif kế thừa từ nguồn truyện kể dân gian a) Motif sinh nở thần kì Motif sinh nở thần kì rất phổ biến trong truyện cổ Việt Nam và thế giới. Motif này xuất phát từ quan niệm về sự thụ thai tinh khiết của người phụ nữ, từ niềm tin nguyên thủy. Họ cho rằng đứa trẻ không phải là kết quả trực tiếp của hành động giao hợp giữa nam và nữ mà các nhân vật thường có xuất xứ lạ kì, là kết quả của sự hòa hợp giữa tự nhiên và con người.
Nếu như trong truyền thuyết, motif này xuất hiện khá nhiều và là một trong ba motif chính: sinh nở thần kì – chiến công phi thường – hóa thân thể hiện cuộc đời của các nhân vật truyền thuyết (anh hùng chống giặc ngoại xâm) thì trong truyện cổ tích hiện đại motif này không mang vai trò đó nữa. Nó xuất hiện ở đầu truyện với nhân vật người cha, người mẹ hiếm muộn ngày đêm mong mỏi mình có được đứa con với 6 tác phẩm (chiếm 1,6%) như sau: Chiếc vòng bạch ngọc (Thy Hạc), Nàng công chúa biển (Trần Hoài Dương), Nàng Út Ống Trúc (Nguyên Hương),… Chẳng hạn, ông lão và bà lão trong Nàng công chúa biển (Trần Hoài Dương) đã lớn tuổi mà chưa có con. Ông lão phải vượt qua bao khó khăn mới lấy được viên ngọc quý mang về cho bà lão. Bà lão nuốt viên ngọc với hi vọng điều lạ kì sẽ đến.
Kết quả, “sau chín tháng mười ngày sau, bà lão hạ sinh một bé gái khỏe mạnh, xinh xắn”. 11 Ở Nàng Út ống trúc, motif sinh nở thần kì gắn với việc ăn món măng trúc: “Vợ chồng tiều phu chỉ làm món măng trúc luộc chấm muối ớt, đơn giản quá nên không dám mời ai, không ngờ sau bữa ăn đó người vợ mang thai”. Như Lan công chúa trong Chiếc vòng bạch ngọc (Thy Hạc) được sinh ra một cách thần kì. Đó là khi hoàng hậu ngắm nhìn bông hoa kì lạ: “Hoàng hậu giật mình chăm chú nhìn.
Bông hoa to dần, to dần và sau cùng những cánh lại từ từ mở ra để lộ một đứa con gái mũm mĩm đương giơ tay chân mập mạp, đỏ hồng hào cọ quậy. Hoàng hậu mừng quá ẵm vào khoe vua”. Sự ra đời của công chúa là một điềm báo hiệu, cô công chúa của nhà vua và hoàng hậu sẽ mang tính cách khác người. Nếu ở truyện cổ tích dân gian, nhân vật thuộc diện sinh nở thần kì đều là nhân vật tài năng thì ở truyện cổ tích hiện đại, loại nhân vật này phần đa mang những phẩm chất, năng lực của con người bình thường.
Cố nhiên, các nhân vật này sẽ có số phận, hoàn cảnh bộc lộ phẩm chất đặc biệt hơn. b) Motif thách cưới Trong truyện cổ tích hiện đại, motif này xuất hiện với tỉ lệ thấp (1,9%), liên quan tới 7 tác phẩm sau: Chuyện chàng đốn củi (Tô Hoài), Đám cưới kì lạ (Tô Hoài), Phượng Hoàng đất (Tô Hoài), Chiếc vòng bạch ngọc (Thy Hạc), Giấc mơ phò mã (Vị Hồ), Nàng công chúa với chuỗi hạt bằng nước (Lan Phương) và Chữ A và chữ E (Nguyên Hương). Motif này xuất hiện dưới dạng nhà gái thách cưới bằng lễ vật, nhà gái thách cưới bằng thử thách. Ở dạng nhà gái thách cưới bằng lễ vật, chàng trai được thách cưới thường là những chàng trai nghèo khó, người đội lốt vật,… nhưng nhìn chung họ là những người tốt.
Chẳng hạn ở Chuyện chàng đốn củi (Tô Hoài): Có một anh chàng chỉ ở một thân một mình mà vẫn nghèo khó. Cày cấy cật lực quanh năm, nhưng được hạt thóc lại phải đem trả thuế ruộng thì vừa hết. Thế mà anh chàng lại có ước muốn viển vông muốn lấy cô Út xinh đẹp con gái phú ông. 12 Phú ông đã thách cưới anh chàng với lễ vật là một trăm lạng vàng: “Bao giờ mày gánh được về nhà tao một trăm lạng vàng thì tao gả con gái cho”.
Như đã đề cập ở trên, chàng trai được thách cưới thường là những chàng trai nghèo khó, người đội lốt vật,… Nhân vật chàng Dê trong Đám cưới kì lạ là nhân vật thuộc dạng người đội lốt vật. Với vẻ bề ngoài là hình hài của một chú dê con có móng, hai mép mọc hàng ria, bốn chân duỗi thẳng, ve vẩy đuôi, Dê vẫn mạnh dạn thưa chuyện với mẹ sang xin hỏi cưới con gái nhà phú ông. Phú ông đã thách cưới mẹ con chàng Dê: “Tôi bằng lòng gả cái ba cho con bà. Bà hãy về lo cho đầy đủ sính lễ, phiên chợ sau thì đem lại tất cả.
Nhà tôi họ hàng nội ngoại, khách khứa nhiều, làm cỗ mất một trăm con trâu, một trăm con bò, một nghìn hũ đại rượu tăm. Còn như sắm sửa cho cô dâu thì nhà trai phải biện đủ năm trăm thoi vàng mười, một nghìn hạt ngọc ngoài bể Đông với mười gánh lụa quyến, mười gánh sa hoa”. Ở dạng nhà gái thách cưới bằng thử thách, nhân vật nữ có tính nết xấu hoặc là người xinh đẹp. Công chúa Như Lan trong Chiếc vòng bạch ngọc (Thy Hạc) là người có tính nết xấu vì thế nhà vua cần một chàng trai có thể làm cho nàng thay đổi tính nết.
Cho nên, lão học sĩ đã bàn với vua: “Bệ hạ cứ cho vời những thiếu niên đến cầu hôn. Ra lệnh cho họ trong một tháng, người nào tìm được cách gì đổi tính xấu xa ra nết tốt thì sẽ được lấy công chúa”. Từ trước đến nay, đây là lời thách cưới lạ nhất và nó không mang nặng tính vật chất, hình thức. Trái ngược với công chúa Như Lan, con gái phú ông trong Phượng Hoàng đất (Tô Hoài) là người có nhan sắc.
Vì thế, phú ông đã thách cưới rất kì lạ: “Đứa nào nộp tao trăm quan tiền rồi lại biết làm cho tao nổi giận thì tao gả con gái cho. Trong bốn phiên chợ mà không làm tao nổi giận thì mất trăm quan tiền cược lại bị nọc ra đánh năm mươi roi rồi đuổi ra cổng. Tao thách cưới thế đấy”. Có mấy ai lại đi thách cưới như vậy.