Luận văn thạc sĩ khảo sát tình trạng sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai tại khoa khám chuyên sâu bệnh viện phụ sản hà nội 10 2019 3 2020

Luận văn thạc sĩ y tế nghiên cứu khảo sát tình trạng sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai tại khoa khám chuyên sâu bệnh viện phụ sản, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

57
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về phụ nữ có thai

1.1.1. Định nghĩa

1.1.2. Những thay đổi trong thời kỳ mang thai

1.1.2.1. Thay đổi về giải phẫu
1.1.2.1.1. Thay đổi tại cơ quan sinh dục
1.1.2.1.2. Thay đổi ngoài cơ quan sinh dục
1.1.2.2. Thay đổi về sinh lý

1.1.3. Bệnh lý thường gặp trong thai kỳ

1.1.4. Sử dụng thuốc kháng sinh trên PNCT

1.1.4.1. Định nghĩa và phân loại kháng sinh

1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu

1.2.2. Thời gian - Địa điểm nghiên cứu

1.2.3. Phương pháp nghiên cứu

1.2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
1.2.3.2. Phương pháp chọn mẫu
1.2.3.3. Nội dung nghiên cứu
1.2.3.4. Phương pháp thu thập số liệu
1.2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu
1.2.3.6. Đạo đức trong nghiên cứu

1.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.3.1. Mô tả cấu trúc danh mục thuốc kháng sinh sử dụng tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ tháng 10/2019 đến hết tháng 3/2020

1.3.2. Tỷ lệ về số lượng và giá trị sử dụng của kháng sinh so với các thuốc khác trong DMT

1.3.3. Tỷ lệ về số lượng và giá trị sử dụng của kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ

1.3.4. Tỷ lệ về số lượng và giá trị sử dụng của kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần

1.3.5. Tỷ lệ về số lượng và giá trị sử dụng của kháng sinh theo đường dùng

1.3.6. Tỷ lệ kháng sinh theo phân loại

1.3.7. Phân tích việc kê đơn thuốc kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện phụ sản Hà Nội từ tháng 10/2019 đến tháng 3/2020

1.3.8. Về thực hiện thủ tục hành chính và hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong đơn

1.3.9. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

1.3.10. Chi phí sử dụng kháng sinh

1.3.11. Số kháng sinh được chỉ định trong đơn thuốc ngoại trú

1.3.12. Số ngày được chỉ định sử dụng kháng sinh trong đơn thuốc ngoại trú

1.3.13. Tỷ lệ kháng sinh theo đường dùng

1.3.14. Tỷ lệ đơn thuốc ngoại trú có làm kháng sinh đồ và tỷ lệ bệnh nhân ghi nhận ADR

1.3.15. Một số hạn chế của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai

Kháng sinh đã trở thành một phần quan trọng trong điều trị bệnh lý cho phụ nữ có thai. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong giai đoạn này cần được xem xét cẩn thận do những tác động tiềm ẩn đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ năm 2019 đến 2020 đã chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai đang gia tăng, điều này đặt ra nhiều câu hỏi về tính an toàn và hiệu quả của các loại thuốc này.

1.1. Kháng sinh và vai trò của nó trong thai kỳ

Kháng sinh được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng phổ biến trong thai kỳ như nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm trùng hô hấp. Tuy nhiên, việc lựa chọn kháng sinh cần dựa trên các tiêu chí an toàn cho thai nhi. Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 10% thuốc trên thị trường có đủ dữ liệu về an toàn cho phụ nữ có thai.

1.2. Tình trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh cho phụ nữ có thai chiếm khoảng 60%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp quản lý và giám sát việc sử dụng kháng sinh để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng kháng sinh cho phụ nữ có thai

Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ kháng thuốc đang gia tăng, đặc biệt là ở những bệnh nhân mang thai. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các bác sĩ trong việc kê đơn kháng sinh.

2.1. Nguy cơ khi sử dụng kháng sinh không hợp lý

Sử dụng kháng sinh không đúng cách có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm cả nguy cơ dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Nghiên cứu cho thấy rằng việc lạm dụng kháng sinh có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng kháng thuốc.

2.2. Thiếu dữ liệu về an toàn của kháng sinh

Thiếu dữ liệu đáng tin cậy về an toàn của kháng sinh trong thai kỳ là một thách thức lớn. Nhiều nghiên cứu không thể thực hiện trên phụ nữ có thai do các vấn đề đạo đức, dẫn đến việc thiếu thông tin cần thiết để đưa ra quyết định điều trị.

III. Phương pháp nghiên cứu tình trạng sử dụng kháng sinh

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 10/2019 đến tháng 3/2020, nhằm khảo sát tình trạng sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích đơn thuốc và phỏng vấn bệnh nhân để thu thập dữ liệu.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, với đối tượng là phụ nữ có thai đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Dữ liệu được thu thập từ các đơn thuốc và hồ sơ bệnh án.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phân tích thống kê để xác định tỷ lệ sử dụng kháng sinh, loại kháng sinh được kê đơn và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng kháng sinh.

IV. Kết quả nghiên cứu về tình trạng sử dụng kháng sinh

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là khá cao. Các loại kháng sinh phổ biến được kê đơn bao gồm Amoxicillin, Cefuroxime và Metronidazole. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp quản lý sử dụng kháng sinh hiệu quả.

4.1. Tỷ lệ kháng sinh được kê đơn

Tỷ lệ kháng sinh được kê đơn cho phụ nữ có thai chiếm khoảng 60% trong tổng số đơn thuốc. Điều này cho thấy kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh lý trong thai kỳ.

4.2. Phân tích các loại kháng sinh sử dụng

Các loại kháng sinh được sử dụng chủ yếu là nhóm beta-lactam, với Amoxicillin là loại phổ biến nhất. Việc lựa chọn kháng sinh cần dựa trên các tiêu chí an toàn và hiệu quả cho thai nhi.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong việc sử dụng kháng sinh

Việc sử dụng kháng sinh cho phụ nữ có thai cần được quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi. Cần có các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh hợp lý trong cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc quản lý sử dụng kháng sinh

Quản lý sử dụng kháng sinh là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Các chương trình giám sát và đánh giá cần được triển khai tại các cơ sở y tế.

5.2. Đề xuất nghiên cứu trong tương lai

Cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu để thu thập dữ liệu về an toàn của kháng sinh trong thai kỳ. Điều này sẽ giúp cải thiện quy trình kê đơn và nâng cao chất lượng điều trị cho phụ nữ có thai.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ khảo sát tình trạng sử dụng kháng sinh ở phụ nữ có thai tại khoa khám chuyên sâu bệnh viện phụ sản hà nội 10 2019 3 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về phụ nữ có thai 1. Định nghĩa Mang thai là trạng thái thụ tinh và phát triển cho một hoặc nhiều phôi thai trong tử cung của người phụ nữ [26]. Tình trạng mang phôi đang phát triển hoặc thai nhi trong cơ thể phụ nữ có thể được chỉ định bằng kết quả dương tính trong xét nghiệm nước tiểu và được xác nhận thông qua xét nghiệm máu, siêu âm , phát hiện nhịp tim thai hoặc chụp X-quang.

Mang thai kéo dài khoảng chín tháng, tính từ ngày có kinh nguyệt cuối cùng của người phụ nữ (LMP) và được chia thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn dài khoảng ba tháng [22]. Những thay đổi trong thời kỳ mang thai 1. Thay đổi về giải phẫu PNCT phải trải qua nhiều thay đổi về thể chất khi mang thai do sự thay đổi của nội tiết tố và nhu cầu thích nghi với thai nhi đang phát triển, bao gồm sự thay đổi tại cơ quan sinh dục và ngoài cơ quan sinh dục. a) Thay đổi tại cơ quan sinh dục [7] Tại cơ quan sinh dục thì tử cung là cơ quan thay đổi nhiều nhất của cơ thể.

Vào tháng cuối của giai đoạn 2, tử cung mở rộng đã tạo ra một vết sưng có thể nhìn thấy. Đến cuối thai kỳ, trọng lượng tử cung có thể tăng đến gấp 20 lần so với khi không có thai. Khi thai lớn, tử cung sẽ có hình dạng ứng với tư thế của thai nhi nằm bên trong. Cổ tử cung mềm dần, có màu tím nhạt và phù nề toàn bộ.

Ngay sau khi thụ thai, chất nhầy ống cổ tử cung đặc lại và tạo thành nút nhầy bít chặt cổ tử cung. Nút nhầy bong ra và được tống ra ngoài khi chuyển dạ. Tại âm đạo, âm hộ, dịch tiết có tính axit tăng lên nhằm hạn chế các mầm bệnh sinh sôi. Các môi lớn và môi nhỏ có những tĩnh mạch giãn rộng.

Dưới da có nhiều tĩnh mạch làm cho âm vật cũng có màu tím. b) Thay đổi ngoài cơ quan sinh dục Ở da có thể xuất hiện các vết sắc tố, chủ yếu tập trung ở mặt và cổ, đường trắng giữa bụng. Thành bụng bị giãn nở, cơ thành bụng giãn rộng, các vết rạn thường xuất hiện ở hai hố chậu, bụng, ngực và mặt trong đùi. Trong 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tuần đầu tiên của thai kỳ, sản phụ thường có cảm giác căng và ngứa ở vùng vú.

Sau tháng thứ 2, tuyến sữa và ống dẫn sữa phát triển làm vú to và căng lên, quầng vú sẫm màu, các hạt Montgomery nổi lên, núm vú to và sẫm màu, hệ thống tuần hoàn tăng, các tĩnh mạch to và nổi lên, nhìn thấy ở dưới da gọi là lưới tĩnh mạch Haller. Sau những tháng đầu tiên có thể gặp hiện tượng tiết sữa non [7]. Hệ tuần hoàn có những thay đổi đáng kể về tim mạch, huyết học, chuyển hóa. Trong suốt thai kỳ, huyết tương và lượng máu tăng từ 40% đến 50% (do tăng aldosterone) để điều chỉnh các thay đổi, dẫn đến tăng nhịp tim nhiều hơn 15 nhịp/ phút so với bình thường.

Cung lượng tim tăng khoảng 50%, chủ yếu trong ba tháng đầu. Lượng progesterone tăng cao trong giai đoạn mang thai dẫn đến giãn mạch và làm giảm sức cản mạch máu toàn thân. Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng tụt huyết áp ở PNCT. PNCT có nguy cơ phát triển cục máu đông và tắc mạch do tăng sản xuất các yếu tố đông máu.

Các cục máu đông thường phát triển ở chân trái hoặc hệ thống tĩnh mạch chậu trái vì tĩnh mạch chậu trái bị cắt ngang bởi động mạch chậu phải. Dòng chảy tăng lên trong động mạch chậu phải sau khi sinh làm chèn ép tĩnh mạch chậu trái dẫn đến tăng nguy cơ huyết khối (đông máu) trầm trọng. Tình trạng phù (sưng) bàn chân là hiện tượng phổ biến trong khi mang thai, nguyên nhân một phần là do tử cung mở rộng sẽ chèn ép tĩnh mạch và dẫn lưu bạch huyết từ chân. [16] Ngoài những thay đổi trên, trong quá trình mang thai, sản phụ còn gặp những thay đổi về chuyển hóa cơ bản, nhịp tim, hô hấp tăng để thích hợp với các đòi hỏi của thai.

Tốc độ lọc cầu thận tăng khoảng 50%, tăng nhẹ kích thước của thận. Trong ba tháng đầu sản phụ thường buồn nôn, nôn, tăng tiết nước bọt, thân nhiệt cao trên 370C do tác dụng của hoàng thể thai nghén. Trọng lượng cơ thể có thể tăng đến 25% so với khi không mang thai, trung bình khoảng 12kg. Hiện tượng tăng cân do sự tăng trưởng của khối thai, các tạng của sản phụ tăng dự trữ mỡ, protein và sự gia tăng thể tích máu, dịch kẽ [7].

Thay đổi về sinh lý Trong giai đoạn thai kỳ, cơ thể sản phụ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, sinh lý và sinh hoá. Những thay đổi này xảy ra rất sớm sau khi thụ tinh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và kéo dài trong suốt thời kỳ thai nghén. Nguyên nhân của các sự thay đổi này là do thay đổi về nội tiết - thần kinh gây ra. Hai loại nội tiết tố thay đổi nhiều trong khi có thai là hCG và các Steroid [7].

hCG là hormon hướng sinh dục rau thai, được tạo thành từ hai tiểu đơn vị a và b. hCG được sản xuất bởi nhau thai ngay trong những tuần đầu và duy trì sản xuất progesterone bởi hoàng thể. Có thể phát hiện hCG trong huyết tương hoặc nước tiểu của sản phụ vào ngày thứ 8 tới thứ 9 sau khi thụ tinh. Nồng độ hCG trong huyết tương của sản phụ tăng gấp đôi sau mỗi 48 giờ và đạt đỉnh điểm vào khoảng ngày thứ 60 đến 70 của thai kỳ.

Sau đó, nồng độ giảm dần tới điểm thấp nhất vào khoảng ngày thứ 100 đến 130 của thai kỳ [7]. Các steroid bao gồm progesteron, estrogen, lactogen nhau thai (hPL) và relaxin đều có sự thay đổi. Progesteron do hoàng thể sản xuất ra trong vài tuần lễ đầu khi mới có thai, sau đó từ bánh nhau. Quá trình sinh tổng hợp của progesteron sử dụng LDL cholesterol của người sản phụ, lượng sản xuất tối đa là 250 mg/ngày.

Trong 2 - 4 tuần đầu tiên của thai kỳ, lượng estrogen trong cơ thể sản phụ chủ yếu do hoàng thể thai nghén sản xuất. Vào tuần thứ 7 của thai kỳ, trên 50% estrogen được sản xuất từ bánh nhau và có liên quan đến sức khỏe của thai nhi. Lượng estrogen sản xuất tối đa khoảng 30–40 mg/ngày. Mức progesterone và estrogen tăng liên tục trong suốt thai kỳ để ức chế trục dưới đồi và sau đó là chu kỳ kinh nguyệt.

hPL được sản xuất bởi nhau thai, kích thích quá trình phân giải mỡ và chuyển hóa axit béo của sản phụ và bảo tồn đường huyết cho thai nhi sử dụng. Nó cũng có thể làm giảm độ nhạy cảm mô của sản phụ với insulin và là nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường thai kỳ [7, 25]. Ngoài hai loại nội tiết tố thay đổi nhiều trong khi có thai là hCG và các Steroid, các tuyến nội tiết khác cũng có những thay đổi đáng kể. Hormon tuyến cận giáp tăng, dẫn đến tăng hấp thu canxi ở ruột và tái hấp thu ở thận.

Trong thai kỳ thường có tình trạng hạ canxi máu do canxi được huy động cho thai. Tuyến yên trọng lượng tăng hơn bình thường từ 0,6 - 0,86 g. FSH, LH không được chế tiết trong suốt thai kỳ, hàm lượng prolactin tăng đều trong khi mang thai. Hiện tượng tiết sữa chỉ xuất hiện khi hàm lượng prolactin vẫn cao và estrogen giảm.

Các hormon tuyến thượng thận như cortisol và aldosterone cũng tăng lên. Trong khi mang thai, aldosteron tăng nhiều gây 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tình trạng ứ đọng nước và muối trong cơ thể, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phù [7]. Bệnh lý thường gặp trong thai kỳ Các bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất gặp phải trong thai kỳ bao gồm nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) (như viêm bể thận…); nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STI) (như lậu, giang mai…) và nhiễm trùng đường hô hấp trên (URTI) [15,17,23]. Mặc dù sử dụng bất kỳ loại thuốc nào trong thai kỳ đều phải cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro, tuy nhiên các bệnh nhiễm trùng như UTI hoặc STI khi không được điều trị sẽ có liên quan đến nguy cơ cho thai nhi đáng kể, bao gồm sảy thai tự nhiên, sinh non và nhẹ cân [13,24].

Thông tin về tính an toàn và hiệu quả thường không có sẵn từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát, vì những nghiên cứu này thường không khả thi ở PNCT và có khả năng phi đạo đức. Vì vậy, mang thai thường là một tiêu chí tiêu chuẩn để loại trừ khỏi các thử nghiệm lâm sàng. Người ta ước tính rằng chỉ có 10% thuốc được bán trên thị trường kể từ năm 1980 có đủ dữ liệu liên quan đến nguy cơ trẻ sơ sinh trong thai kỳ [18]. Ngoài những bệnh nhiễm trùng phổ biến thường gặp ở trên thì nhiễm khuẩn hậu sản cũng là một trong năm tai biến sản khoa nguy hiểm thường gặp, đặc biệt ở các nơi có trình độ và cơ sở vật chất yếu kém.

Việc sử dụng kháng sinh trong trường hợp này là cần thiết để tránh tình trạng nhiễm khuẩn nặng và là nguyên nhân dễ dẫn đến tử vong mẹ nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời [6,13]. Sử dụng thuốc kháng sinh trên PNCT 1. Định nghĩa và phân loại kháng sinh 1. Định nghĩa Kháng sinh được định nghĩa: “Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác” [1].

Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [1]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại Có nhiều cách phân loại kháng sinh, tuy nhiên cách phân loại phổ biển nhất là phân loại theo phổ tác dụng của kháng sinh và phân loại dựa trên cấu trúc hoá học [1,5]. a) Phân loại kháng sinh theo phổ tác dụng Cách này chỉ phù hợp với một số kháng sinh nhất định và mang tính ước lệ vì được sử dụng dựa trên kinh nghiệm khi chưa có kết quả xét nghiệm kháng sinh đồ.

Cách phân loại này được thể hiện trong bảng 1. Phân loại kháng sinh theo phổ tác dụng STT Phân loại Đại diện 1 Kháng sinh tác dụng lên VK Penicillin, erythromycin Gram (+) 2 Kháng sinh tác dụng lên VK Chloramphenicol, gentamycin Gram (-) 3 Kháng sinh phổ rộng Các cyclin, cephalosporin II, III, quinolon, imipenem. 4 Kháng sinh phổ hẹp chuyên biệt Với các cầu khuẩn Gram Oxacillin, cephalosporin I, dương vancomycin Kháng sinh chống lao Rifampicin, isoniazid, streptomycin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ