Đặt vấn đề Bay lá một hoa (Paris vietnamensis (Takht.L1) loại dược liệu quý được sử dụng làm thuốc trong y học cô truyền có chứa thành phần hóa học chính là Saponin steroid va Polyphyllin là hợp chất quý. Thành phần dược tính có trong cây (Paris vietnamensis (Takht) H. Li) đã được chứng minh có các tác dụng như giảm đau chống viêm, cầm máu, điều hòa miễn dịch, chữa rắn độc cắn và đặt biệt là ức chế sự phát triển của khối u. Bởi vì tác dụng dược lý vô cùng quý của nó mà nhu cầu sử dụng cây bảy lá một hoa ngày càng cao, người dân ở các vùng dược liệu này đã khai thác ráo riết, làm cho số lượng dược liệu này giảm đi một cách nhanh chống và đáng kể trong tự nhiên.
Trong khi đó, quan thé loài này có những đặc điềm sinh thái khá phức tạp, quá trình sinh trưởng và phát triển trong môi trường tự nhiên lâu đài, tỉ lệ phát tán hạt giống và nảy mam của cây rất thấp và khó thuần dưỡng khi rời khỏi môi trường tự nhiên vốn có của nó. Việc nhân giống chủ yếu bằng cách ươm hạt và giâm củ có mắt ngủ, tuy nhiên tỉ lệ nảy mam thấp dẫn đến khó trồng trong điều kiện vườn ươm. Trong khi nhiều loại sâm có giá trị kinh tế đã được trồng trong vườn ươm để phục vụ cho việc khai thác dược liệu thì cây bảy lá một hoa vẫn dựa hoàn toàn vào số lượng trong tự nhiên, chưa có nhà vườn nào trồng thành công loài này. Cùng với việc bị khai thác quá mức quan thé loài được liệu này đang đứng trên bờ vực có nguy cơ dẫn đến tuyệt chủng.
Thế nên cần phải có các biện pháp duy trì, bảo vệ và khai thác, phát triển hiệu quả, bền vững quan thé này ở Việt Nam là điều cấp thiết. Hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu nhân giống loài cây này. Các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc xác định các hoạt chất có trong cây bảy lá một hoa (Đỗ Tắt Lợi, 2004; Zhang J và ctv, 2012; Tang Ly va ctv, 2014). Vì thế mà đề tài này được thực hiện nhằm khảo sát điều kiện khử trùng và ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thích hợp đến sự tạo sẹo và rễ từ lát thân, củ cây bảy lá một hoa.
Mục tiêu đề tài Xác định điều kiện khử trùng và ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thích hợp đến sự tạo sẹo và rễ cây bảy lá một hoa 1. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát điều kiện khử trùng thích hợp đối với mẫu thân, mẫu lá và mẫu củ cây bảy lá một hoa để tạo vật liệu khởi đầu. Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên khả năng tạo sẹo và tạo rễ từ thân và củ cây bảy lá một hoa. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tổng quan về bảy lá một hoa 2. Phần loại Bay lá một hoa có tên khoa học là Paris vietnamensis (Takht. Hay tên đồng danh là Daiswa hainanensis subsp. Bảy lá một hoa được miêu tả khoa học đầu tiên năm 1984 (Takht.
Bay lá một hoa là một loại cây thuộc chi Paris (chi trong lấu), họ hắc được hoa hay họ lê lô (Melanthiaceae), trong dân gian nó còn được gọi là Thất Diệp Nhat Chi Hoa, Thiết Dang Dai, Chi Hoa Dau, Tảo Hữu, Thỏa Hà Xa, Thất tử liên v. Giới (regnum) : Plantae Ngành (divisio) : Angiospermae Lớp (class) : Monocots Bộ (ordo) : Liliales Ho (familia) : Melanthiaceae Chi (genus) : Paris Loai (species) : Paris vietnamensis 2. Đặc điểm hình thái và sinh trưởng Bảy lá một hoa là một loại thân thảo nhỏ, có hình dạng rất đặc biệt, sống lâu năm củ thường dài khoảng 5 - 15 cm, đường kính khoảng 2,5 cm rất nhiều đốt. Thân thang đứng cao khoảng 25 — 70 cm, phía bên dưới gốc có các lá đã thái hóa thành các vẫy bao quanh củ.
Giữa thân có một tang lá mọc vòng gồm 6 — 8 cái lá, thường là 7 lá, cuốn lá đài từ 2,5 — 3 cm, phiến lá mỏng có hình mác rộng, dai 11 — 21 cm, rộng 4 — 9 cm, đầu phiến lá nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẫn, màu sắc lá thường là xanh nhạt, vàng nhạt, đôi khi có màu tím nhạt. Hoa mọc đơn độc ở đỉnh cây, cuốn hoa đài 15 — 30 em, lá đài hình mũi mác màu xanh lục như lá, có 4 — 7 (thường là 6) lá xếp thành vòng trên thân, dai 3 — 7 cm, rời từng cánh một không rụng. Số lá đài, thường bằng (hoặc xấp xi) số lá và số cánh hoa. Số lá đài có thé thay đồi nhiều hay ít trong cùng 1 loài chứ không phải con số có định.
Cánh hoa dạng dài, xoắn ít tới nhiều, dai hơn lá đài 1,2 — 2 lần. Số lượng nhị khoảng 8-14, thường gấp 2 lần số lượng lá, số lá đài và số cánh hoa xếp 2 vòng. 3 Bầu có cạnh bầu lõm sâu, thường có ba ngăn, 4 - 7 cạnh, số cạnh bầu thường bằng VỚI số la, số lá đài, số cánh hoa và số thùy của đầu nhụy. Phận gốc voi nhụy — đỉnh bầu thường có màu sắc đa dạng từ mau tia, tim tới màu xanh lam.
Vietnamensis được phân biệt với các loài khác thuộc chỉ ở đặc điểm đặc trưng bao gồm: nhị có trung đới kéo đài hình trụ ngắn 1 - 1.5 mm, cánh hoa dai hơn đài 1,5 — 2 lần, cạnh bầu lõm sâu, lát cắt ngang qua bầu hình sao, nhụy gần như xẻ từ gốc với phần hợp (vòi nhụy) rất ngắn, phần xẻ thành các thùy (đầu nhụy) dài, hạt có áo hạt màu đỏ (Nguyễn Tiến Dũng và ctv, 2018). Đây là loài cây ưa âm và ưa bóng sinh trưởng chủ yếu dưới các tán cây, thường moc nơi đất 4m, nhiều mun, rải rác dưới tán rừng mưa nhiệt đới thường xanh ở các hốc đá, doc bờ khe suối miền núi ở độ cao từ 100 m đến 1500 m (Nguyễn Quỳnh Nga và ctv, 2016). Vào cuối mùa thu hằng năm phan thân trên mặt đất lui di. Thân rễ mang 1 đến 2 chồi ngủ tồn tại xuyên suốt mùa đông và mọc lại vào giữa mùa xuân năm sau.
Trong tự nhiên, thường chỉ có những cây trưởng thành với chiều dai thân rễ trên Sem mới cho hoa quả và kết quả. Cây được nhân giống bằng hạt hoặc bang củ có các chồi ngủ. Mỗi cây chỉ có một hoa và mỗi hoa chỉ có một ít hạt (khoảng 5-10 hạt), cho nên tỉ lệ nhân giống bằng hạt hiệu quả không cao. Củ có nhiều đốt chứa các chồi ngủ nên có thể tách từng đoạn đề trồng.
thời gian gieo trồng thường vào mùa xuân (tháng 2 — 3) hoặc mùa thu và thời gian thu hoạch khoảng (tháng 6 — 7). Cây ra hoa quả hàng năm. Khi quả già tự mở cho hạt rơi xuống đất. Cây con mọc ra từ hạt quan sát thay vào khoảng (thang 4 — 5).
Phân bố Trên thế giới, loài này phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, An Độ, Nê Pan. Ở nước ta, trước đây cây bảy lá một hoa được phát hiện tại vùng núi Cúc Phương thuộc Hà Nam, Ninh Binh, Sa Pa (Lào Cai), Da Bắc (Hòa Bình), Sơn Động (Hà giang) (Đỗ Tat Loi, 2004). Cho nay nước ta đã thống kê và ghi nhận được tổng số 8 loài và 2 thứ thuộc chi Paris gồm: Paris dunniana H., Paris fargensii Franch., Paris vietnamensis (Takht.Li, Paris caobangensis Y.Zhou, Paris cronquistii (Takht.Li, Paris xichouensis (H.Zhou, Paris delavayi Franch., Paris polyphylla Sm., Paris polyphylla var., và Paris polyphylla var. Phân bố rai rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc cho tới vùng núi cao miền Trung và Tây (Nguyễn Quỳnh Nga va ctv, 2016).
Thành phan hóa học Bảy lá một hoa được xem là một loại kỳ hoa dị thảo với hình dạng đặc biệt và bộ phận thường dùng là thân rễ, có chứa thành phần hóa học chính là Saponin steroid và Polyphyllin là hợp chất quý. Thân rễ cây bảy lá một hoa chứa diosgenin, pennogenin, đường 7 — 9%, 2 glucosid là a-paridin và o-paristyphnin. Từ cao phân đoạn etyl axetat phần thân rễ bảy lá một hoa đã phân 6 hợp chất tinh khiết gồm: diosgenin, hỗn hợp hai chất stigmasterol-3-O-B-D-glucopyranosid và j- sifosterol-3-O-B-D-glucopyranosid, gracillin, paris saponin D, paris saponin H. Từ cao phân đoạn etyl axetat va butanol phan trên mặt đất loài bay lá một hoa phân lập được 15 hợp chat tinh khiết: trong đó có 1 hợp chất mới là 12-hydroxy-diosgenin-3- O-œ-L-rhamnopyranosy]-(1—›2)-[œ-L-rhamnopyranosy]-(1—›3)]-B-D-glucopyranosid, 5 hợp chat lần đầu tiên phân lập từ chi Paris gồm I-O-ơ-linolenoyl-3-B-D- galactopyranosyl-glyxerol, stigmasterol, thymidin, resveratrol, e-viniferin; 2 hợp chất lần đầu tiên phân lập từ loài bảy lá một hoa gồm quercetin và 7 hợp chất khác là diosgenin-3-O-g-Lrhamnopyranosy]-(1—2)-B-D-glycopyranosid, dioscin, parIs saponin II pennogenm, stigmasterol-3-O-D-glucosid, diosgenin-3-O-d-L- rhamnopyranosyl-(1—›4)-B-D-glycopyranosid và paris saponin VIL.
Các hợp chat được phan lập từ loài paris bao gồm saponin, flavonol, sphingolipid và các glycosid khác. Trong đó, nhóm có cấu tric saponin được nghiên cứu nhiều nhất la saponin steroid. Tổng cộng, 94 saponin steroid đã được phân lập từ chi Paris. Trong số đó, các đại diện thường gặp nhất là saponin loại spirostan, saponin diosgenin 1 — 20.
Saponin diosgenin là một hệ vòng A-F sáu vòng, với nhóm oligosaccharidic liên kết với aglycon tại C(3). Hợp chất 1 được phân lập lần đầu tiên từ P. pubescens, cau trúc va cấu hình tuyệt đối của nó đã được làm sáng tỏ bằng các phương pháp quang pho (XX Huang va ctv, 2010), và sau đó, nó được xác định liên tục trong P. Tác dụng được lý Bay lá một hoa loại dược liệu quý được sử dụng lam thuốc trong y học cô truyền lâu đời nay của rất nhiều nước như: An Độ , Việt Nam, Trung Quốc v.
Thanh phan dược tính có trong cây (Paris vietnamensis (Takht) H. Li) đã được chứng minh có các tác dụng như giảm đau chống viêm, cầm máu, điều hòa miễn dịch, chữa rắn độc can và đặt biệt là ức chế sự phát triển của khối u. Bởi vì có các công dụng đặt biệt ấy mà nhu câu sử dụng của người tiêu dùng về loại cây dược liệu nảy ngày cảng cao Trong đông y bảy lá một hoa có tính hơi lạnh, vị đắng, hơi cay. Tác dụng chủ yếu là xô ha, lợi tiêu, tiêu dom, hoạt huyết tán ứ, thanh nhiệt, giải độc.
Theo dân gian, bảy lá một hoa có vi ngọt, hơi cây, tính bình không độc. Tác dụng là thanh nhiệt giải độc, chữa sốt và rắn độc, sốt rét, ho lao ho lâu ngày. Thân rễ của cây bay lá một hoa có chứa saponin, flavonol, sphingolipids và nhiều glycoside khác (Đỗ Tat Lợi, 2004). Nhiều thành phần hóa học thực vật được tìm thấy trong thân và rễ của cây bảy lá một hoa có hoạt tính dược lý như terpenoid, quinon, carbohydrate, alkaloid, sterol, flavonoid, saponin, glycoside, phenol và tanin (Yuan-Chuen Wang va ctv, 2011).