Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia nông nghiệp với khoảng 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn, trong đó ngành chăn nuôi giữ vai trò thiết yếu đối với cơ cấu kinh tế - xã hội. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi phát triển nhanh chóng về số lượng đầu con và quy mô nuôi. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ chiếm tỷ lệ lớn, thiếu quy hoạch đồng bộ, đặc biệt tại các vùng tập trung dân cư đông đúc, đã và đang gây áp lực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ô nhiễm phát sinh chủ yếu từ chất thải rắn (phân, chất độn chuồng), chất thải lỏng (nước tiểu, nước tắm, nước rửa chuồng), bụi, khí độc, tiếng ồn và xác gia súc tiêu hủy không đúng quy trình kỹ thuật. Kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn chuồng trại cho thấy tổng số vi khuẩn trong không khí chuồng nuôi cao gấp 30 - 40 lần so với môi trường bên ngoài.

Tỉnh Thái Bình là địa phương ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, có điều kiện tự nhiên và nguồn lao động thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Chăn nuôi lợn là phân ngành chủ lực của tỉnh, chiếm 80% tổng sản lượng thịt và 66,8% giá trị sản xuất toàn ngành chăn nuôi. Đàn lợn toàn tỉnh duy trì ở mức trên 1 triệu con (năm 2016 đạt khoảng 1.093.000 con), sản lượng thịt lợn sữa lớn nhất cả nước (5.713 tấn), xuất khẩu 700.000 - 800.000 con/năm với kim ngạch 4 triệu USD/năm. Lĩnh vực chăn nuôi toàn tỉnh thải ra khoảng 477 tấn chất thải mỗi ngày. Tại huyện Kiến Xương, phương thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, tận dụng thức ăn thừa vẫn chiếm ưu thế; hệ thống xử lý chất thải xuống cấp, hầm biogas xây dựng chưa đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất tại địa phương.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng các loại chất thải phát sinh và mức độ gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động chăn nuôi lợn tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; từ đó đề xuất các biện pháp quản lý, xử lý và tận thu chất thải phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và hỗ trợ phát triển chăn nuôi bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (5 nội dung):
    1. Điều tra số lượng và quy mô của các trang trại, hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Kiến Xương.
    2. Điều tra khối lượng các loại chất thải phát sinh từ các cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện.
    3. Phân loại các nguồn chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi lợn.
    4. Điều tra, phân tích thực nghiệm mức độ gây ô nhiễm môi trường (nước thải, khí thải, chất thải rắn, đất) của một số cơ sở chăn nuôi lợn điển hình.
    5. Đề xuất các giải pháp quản lý và công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Kiến Xương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Lượng chất thải phát sinh và các vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến hoạt động chăn nuôi lợn tại các cơ sở trên địa bàn huyện Kiến Xương.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu tập trung tại một số trang trại và hộ chăn nuôi lợn thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (điển hình tại xã Bình Thanh và xã Bình Định); thời gian khảo sát thực tế và lấy mẫu phân tích diễn ra vào tháng 11/2017, kết hợp dữ liệu thống kê giai đoạn 2011 - 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở hóa học môi trường, vi sinh vật học chất thải chăn nuôi và các văn bản quản lý nhà nước:

  • Cơ sở lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng: Lý thuyết về động học phát thải chất thải gia súc (tỷ lệ chất thải chiếm 1,5 - 6% khối lượng cơ thể); thành phần hóa học của phân, nước tiểu, nước thải chăn nuôi (hàm lượng vật chất khô, N-tổng, P-tổng, amoni, BOD5, COD, coliform); cơ chế phát sinh khí độc ($NH_3, H_2S, CH_4, CO_2, NO_x$, indol, mecaptan). Các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn gồm: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-99:2012/BNNPTNT (về điều kiện vệ sinh thú y khu cách ly kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật); các tiêu chuẩn phân tích TCVN 6492:2011 (đo pH), 52TCN-87 (độ màu), TCVN 6625:2000 (TSS), TCVN 6000-1:2008 ($BOD_5$), SMEWW 5220C:2012 (COD), QTPT/HD-57 (Amoni), TCVN 6187-2:1996 (Tổng Coliform); Quyết định số 4064/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Tái cơ cấu giống gia súc trong chăn nuôi nông hộ tỉnh Thái Bình 2016 - 2020; Quyết định số 3312/QĐ-UBND tỉnh Thái Bình.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    1. Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tư liệu: Thu thập giáo trình, tạp chí khoa học, báo cáo thống kê ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình và huyện Kiến Xương.
    2. Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thực địa, sử dụng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại, hộ chăn nuôi về quy mô đàn, cơ cấu giống, chế độ dinh dưỡng, lượng nước sử dụng và hiện trạng vận hành công trình xử lý chất thải.
    3. Phương pháp khảo sát và lấy mẫu hiện trường: Phối hợp với đoàn cán bộ Trung tâm Quan trắc Môi trường tiến hành định vị, lấy mẫu và bảo quản mẫu nước thải, không khí, đất tại các cơ sở đại diện theo đúng quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2016 của Cục Thống kê Thái Bình; báo cáo kinh tế - xã hội huyện Kiến Xương năm 2016; kết quả phân tích mẫu thực nghiệm của Trung tâm Quan trắc Môi trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về hoạt động chăn nuôi lợn

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam và tỉnh Thái Bình, đồng thời phân tích chi tiết đặc tính các nguồn chất thải phát sinh.

  • Thực trạng chăn nuôi lợn tại Việt Nam và Thái Bình: Tổng đàn lợn cả nước đạt khoảng 28 triệu con, đang chuyển dịch từ chăn nuôi tận dụng sang chăn nuôi trang trại thâm canh giống ngoại (Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain). Tại Thái Bình, giai đoạn 2011 - 2016 chứng kiến giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2016 đạt 8.680 tỷ đồng (tăng 4,33%). Tỷ lệ nái lai và nái ngoại chiếm 62%, đàn đực giống ngoại đạt 83%. Tỉnh có 587 trang trại chăn nuôi lợn, trong đó quy mô 100 - 199 con chiếm tỷ lệ cao nhất (48,2%).
  • Đặc tính các dòng thải chăn nuôi lợn theo lý thuyết:
    • Chất thải rắn (phân): Chứa 65 - 80% nước, vật chất khô dao động 213 - 342 g/kg, N-tổng từ 7,99 - 9,32 g/kg, $NH_4^+$-N từ 0,66 - 0,76 g/kg, pH từ 6,47 - 6,95. Trong phân chứa nhiều vi khuẩn đường ruột họ Enterobacteriaceae (E.coli, Salmonella, Shigella) và trứng giun sán (Ascarisium chiếm 39 - 83%, Oesophagostomum 60 - 68,7%).
    • Nước tiểu: Chiếm 99% là nước, vật chất khô 30,9 - 35,9 g/kg, urê 123 - 196 g/kg, N-tổng 4,9 - 6,63 g/kg; urê dễ phân hủy hiếu khí sinh $NH_3$ gây mùi khai nồng.
    • Nước thải chăn nuôi: Hình thành từ nước tiểu hòa lẫn nước tắm, rửa chuồng (tỷ lệ 1 kg chất thải pha loãng với 20 - 49 kg nước). Tải lượng ô nhiễm rất cao: $BOD_5$ đạt 3.500 - 9.800 mg/l, COD đạt 5.000 - 12.000 mg/l, chất rắn lơ lửng (SS) đạt 680 - 1.200 mg/l, N-tổng đạt 220 - 460 mg/l, P-tổng đạt 36 - 72 mg/l.
    • Chất thải nguy hại và khí thải: Vỏ chai thuốc thú y, kim tiêm, bệnh phẩm; phát thải hơn 170 hợp chất khí, tiêu biểu là $NH_3, H_2S, CH_4, CO_2$.
Chỉ tiêu phát thải cho 1.000 kg thể trọng lợn/ngày Giá trị
Tổng lượng phân 84,0 kg
Tổng lượng nước tiểu 39,0 kg
Tổng chất rắn (TS) 11,0 kg
Nhu cầu oxy sinh hóa ($BOD_5$) 3,1 kg
Amoni ($NH_4^+$-N) 0,29 kg
Chất rắn lơ lửng (SS) 0,027 kg

Chương 2: Hiện trạng chất thải phát sinh trong chăn nuôi lợn ở huyện Kiến Xương

Chương 2 trình bày các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kiến Xương, phân tích quy trình kỹ thuật chăn nuôi và tính toán định lượng các dòng chất thải phát sinh trên địa bàn.

  • Đặc điểm địa bàn huyện Kiến Xương: Huyện có 37 đơn vị hành chính (36 xã, 1 thị trấn), diện tích tự nhiên nằm ở hạ lưu sông Hồng, bao bọc bởi sông Trà Lý và sông Kiến Giang; dân số 226.978 người, mật độ 1.123 người/$km^2$. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, nhiệt độ trung bình $23,8^\circ C$, độ ẩm trung bình 86%, lượng mưa trên 2.000 mm/năm.
  • Thực trạng đàn lợn và quy trình chăn nuôi: Toàn huyện có 112.738 con lợn (chiếm 10,75% tổng đàn toàn tỉnh), bao gồm 6 trang trại quy mô lớn và 25 gia trại quy mô vừa, phần lớn còn lại là chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Quy trình nuôi lợn nái và lợn thịt tuân thủ định mức năng lượng từ 2.800 - 3.250 kcal/kg thức ăn và protein tiêu hóa từ 12 - 18%, sử dụng hóa chất tiêu độc chuồng trại (nước vôi, formol 20%).
  • Tính toán tải lượng chất thải phát sinh:
    • Chất thải rắn: Định mức phân thải hàng ngày là 0,25 kg/con đối với lợn con; 0,94 kg/con đối với lợn thịt; 1,08 kg/con đối với lợn đực giống; 0,84 kg/con đối với lợn nái. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ đàn lợn trên toàn huyện là 79.397,03 kg/ngày (khoảng 79,4 tấn/ngày).
    • Nước thải chăn nuôi: Lượng nước thải bình quân 15 lít/con/ngày. Tổng thể tích nước thải phát sinh toàn huyện đạt 1.691.070 lít/ngày (khoảng 1.691,07 $m^3$/ngày).
    • Hiện trạng quản lý: Khí thải chưa có hệ thống thu gom xử lý; nước thải chủ yếu lắng lọc sơ bộ qua ao cá, đầm bèo theo mô hình VAC hoặc qua hầm biogas nông hộ; chất thải rắn một phần nạp vào bể biogas, một phần ủ phân hữu cơ; chất thải nguy hại (bao bì thuốc thú y, bơm kim tiêm) được thu gom thủ công nhưng nguy cơ phát tán mầm bệnh vẫn tiềm ẩn.
Nhóm lợn theo công năng Số lượng (con) Định mức phân (kg/con/ngày) Tổng lượng phân (kg/ngày)
Lợn con (sau cai sữa - 15 kg) 41.182 0,25 10.295,50
Lợn thịt (15 kg - xuất chuồng) 22.182 0,94 20.851,08
Lợn đực giống 29 1,08 31,32
Lợn nái 57.404 0,84 48.219,13
Tổng cộng 120.797 - 79.397,03

Chương 3: Điều tra mức độ gây ô nhiễm môi trường của một cơ sở chăn nuôi lợn ở huyện Kiến Xương

Chương 3 công bố số liệu thực nghiệm đo đạc chất lượng môi trường tại 3 cơ sở chăn nuôi đại diện và đưa ra các giải pháp xử lý kỹ thuật:

  • Thông tin các điểm lấy mẫu nước thải:
    • Mẫu NT1: Trang trại bà Bùi Thị Sen (thôn Đa Cốc, xã Bình Thanh), quy mô lớn (> 100 con), lấy mẫu ngày 18/11/2017.
    • Mẫu NT2: Hộ gia đình ông Đào Văn Sơn (thôn Điện Biên, xã Bình Thanh), quy mô nhỏ (< 15 con), lấy mẫu ngày 19/11/2017.
    • Mẫu NT3: Hộ gia đình ông Bùi Văn Dụng (thôn Trần Phú, xã Bình Định), quy mô vừa (30 - 50 con), lấy mẫu ngày 21/11/2017.
  • Kết quả phân tích chất lượng nước thải so với QCVN 01-99:2012/BNNPTNT:
    • Chỉ số pH: Dao động từ 7,56 - 8,95, nằm trong ngưỡng cho phép (5,5 - 9,0).
    • Độ màu: Dao động 71,23 - 76,3 Pt-Co, vượt giới hạn cho phép (70 Pt-Co) từ 1,01 đến 1,06 lần (cao nhất tại NT2).
    • Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Đạt 125 - 232 mg/l, vượt giới hạn (100 mg/l) từ 1,25 đến 2,32 lần (cao nhất tại NT1).
    • Nhu cầu oxy sinh hóa ($BOD_5$): Đạt 314,23 - 460,2 mg/l, vượt giới hạn (50 mg/l) từ 6,28 đến 9,20 lần (cao nhất tại NT1).
    • Nhu cầu oxy hóa học (COD): Đạt 367,4 - 782,9 mg/l, vượt giới hạn (100 mg/l) từ 3,67 đến 7,82 lần (cao nhất tại NT1).
    • Amoni ($NH_4^+$-N): Đạt 98,56 - 182,3 mg/l, vượt giới hạn (10 mg/l) từ 9,85 đến 18,23 lần (cao nhất tại NT1).
    • Tổng Coliform: Đạt $25 \times 10^3 - 90 \times 10^3$ MPN/100ml, vượt giới hạn ($5 \times 10^3$ MPN/100ml) từ 5,0 đến 18,0 lần (cao nhất tại NT1).
STT Thông số phân tích Đơn vị Phương pháp thử NT1 NT2 NT3 QCVN 01-99:2012 /BNNPTNT
1 pH - TCVN 6492:2011 8,95 7,56 7,68 5,5 - 9,0
2 Độ màu - 52TCN-87 71,23 76,30 74,10 70
3 TSS mg/l TCVN 6625:2000 232,0 125,0 143,0 100
4 $BOD_5$ mg/l TCVN 6000-1:2008 460,2 321,35 314,23 50
5 COD mg/l SMEWW 5220C:2012 782,9 367,4 402,3 100
6 Amoni ($NH_4^+$/N) mg/l QTPT/HD-57 182,3 123,67 98,56 10
7 Tổng Coliform MPN/100ml TCVN 6187-2:1996 $90 \times 10^3$ $25 \times 10^3$ $25 \times 10^3$ $5 \times 10^3$
  • Đánh giá và biện pháp đề xuất: Nước thải tại trang trại NT1 có mức độ ô nhiễm hữu cơ và vi sinh cao nhất do mật độ đàn lớn nhưng hệ thống xử lý chưa đáp ứng. Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp chính:
    1. Quy hoạch chăn nuôi: Di dời các cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu dân cư tập trung, quy hoạch vùng chăn nuôi an toàn sinh học.
    2. Ứng dụng công nghệ đệm lót sinh học: Sử dụng mùn cưa, trấu kết hợp chế phẩm vi sinh để phân giải chất thải ngay tại chuồng, giảm phát sinh nước thải và mùi hôi.
    3. Xử lý bằng công nghệ ép tách phân: Tách riêng bã phân rắn để sấy/ủ phân vi sinh, giảm tải lượng ô nhiễm hữu cơ đi vào hầm biogas và ao sinh học.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể và những đóng góp thực tiễn cho công tác quản lý môi trường tại địa phương:

  • Kết quả thực nghiệm chính:
    • Xác lập được số liệu phát thải chất thải chăn nuôi lợn trên phạm vi toàn huyện Kiến Xương với 79,397 tấn phân/ngày và 1.691,07 $m^3$ nước thải/ngày.
    • Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước thải tại 3 cơ sở điển hình, chỉ ra sự ô nhiễm nghiêm trọng về các chỉ tiêu hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh ($BOD_5$ vượt 6,28 - 9,20 lần; COD vượt 3,67 - 7,82 lần; Amoni vượt 9,85 - 18,23 lần; Coliform vượt 5 - 18 lần), trong khi chỉ tiêu pH vẫn đạt chuẩn.
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra hệ thống giải pháp kỹ thuật có tính khả thi đối với địa bàn nông thôn gồm: quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, chăn nuôi trên đệm lót sinh học và đầu tư hệ thống máy ép tách phân rắn - lỏng trước khi đưa nước thải vào bể biogas.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Xây dựng bộ dữ liệu cơ sở ban đầu về tải lượng và thành phần hóa lý của chất thải chăn nuôi lợn tại huyện Kiến Xương; cung cấp căn cứ khoa học giúp chính quyền địa phương triển khai các đề án tái cơ cấu chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số lượng điểm lấy mẫu thực nghiệm nước thải còn giới hạn (3 cơ sở đại diện tại 2 xã Bình Thanh và Bình Định); đợt lấy mẫu diễn ra tập trung trong tháng 11/2017 nên chưa phản ánh được sự biến thiên nồng độ ô nhiễm theo các mùa khác nhau trong năm; các phân tích về chất lượng môi trường không khí và đất xung quanh chuồng nuôi chưa được trình bày chi tiết bằng số liệu cụ thể trong các bảng phân tích mở rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô và tần suất quan trắc môi trường (nước, khí, đất) theo chu kỳ 4 mùa trên toàn bộ 37 xã, thị trấn của huyện; tiến hành thử nghiệm mô hình đệm lót sinh học và máy ép tách phân tại các quy mô hộ khác nhau nhằm tính toán hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cụ thể trước khi nhân rộng.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên: Thuộc các ngành Sư phạm Hóa học, Hóa học Môi trường, Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Chăn nuôi - Thú y có nhu cầu tham khảo phương pháp điều tra hiện trường, quy trình lấy mẫu và phân tích chỉ tiêu nước thải theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, SMEWW).
  • Cán bộ quản lý môi trường và nông nghiệp cấp cơ sở: Cán bộ Phòng Tài nguyên & Môi trường, Phòng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn huyện Kiến Xương và tỉnh Thái Bình có thể sử dụng dữ liệu phát thải để xây dựng quy hoạch chăn nuôi và kiểm soát ô nhiễm nguồn thải nông nghiệp.
  • Phần có giá trị tham khảo cao nhất: Phương pháp tính toán tải lượng phân thải theo cơ cấu đàn lợn (Chương 2) và bảng số liệu thực nghiệm phân tích chất lượng nước thải đối chiếu với QCVN 01-99:2012/BNNPTNT (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải rắn và thể tích nước thải phát sinh mỗi ngày từ hoạt động chăn nuôi lợn tại huyện Kiến Xương là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra và tính toán của khóa luận, toàn huyện Kiến Xương phát sinh khoảng 79.397,03 kg (79,397 tấn) chất thải rắn (phân) và 1.691.070 lít (1.691,07 $m^3$) nước thải mỗi ngày từ đàn lợn trên địa bàn.

2. Chất lượng nước thải chăn nuôi tại trang trại bà Bùi Thị Sen (NT1) có mức độ ô nhiễm như thế nào so với quy chuẩn?
Nước thải tại điểm NT1 có nồng độ ô nhiễm cao nhất trong 3 cơ sở được khảo sát: $BOD_5$ đạt 460,2 mg/l (vượt quy chuẩn 9,2 lần), COD đạt 782,9 mg/l (vượt 7,82 lần), Amoni đạt 182,3 mg/l (vượt 18,23 lần), TSS đạt 232 mg/l (vượt 2,32 lần) và Tổng Coliform đạt $90 \times 10^3$ MPN/100ml (vượt 18 lần) theo QCVN 01-99:2012/BNNPTNT.

3. Cơ cấu đàn lợn tại huyện Kiến Xương phân theo nhóm đối tượng nuôi gồm những số lượng nào?
Tổng đàn lợn huyện Kiến Xương được thống kê gồm: 41.182 con lợn con (sau cai sữa đến 15 kg), 22.182 con lợn thịt (15 kg đến xuất chuồng), 29 con lợn đực giống và 57.404 con lợn nái.

4. Thông số hóa lý nào trong nước thải chăn nuôi lợn tại cả 3 cơ sở đạt yêu cầu theo QCVN 01-99:2012/BNNPTNT?
Chỉ tiêu pH tại cả 3 cơ sở (NT1: 8,95; NT2: 7,56; NT3: 7,68) đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn (dao động từ 5,5 đến 9,0).

5. Tác giả đề xuất những giải pháp kỹ thuật chính nào để giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi lợn tại địa phương?
Khóa luận đề xuất 3 biện pháp kỹ thuật then chốt: (1) Thực hiện quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư; (2) Áp dụng mô hình chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học bằng mùn cưa, trấu và chế phẩm vi sinh; (3) Ứng dụng công nghệ ép tách phân rắn - lỏng để thu hồi phân hữu cơ và giảm tải cho công trình biogas.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Ngọc Lệ đã phản ánh thực trạng phát thải và mức độ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ hoạt động chăn nuôi lợn tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thông qua số liệu điều tra thực địa và kết quả phân tích hóa lý thực nghiệm. Các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ ($BOD_5$, COD), dinh dưỡng (Amoni) và vi sinh vật (Coliform) trong nước thải chăn nuôi tại các cơ sở khảo sát đều vượt nhiều lần so với QCVN 01-99:2012/BNNPTNT. Các giải pháp kỹ thuật như quy hoạch vùng nuôi, ứng dụng đệm lót sinh học và công nghệ ép tách phân được đề xuất có giá trị thực tiễn cao đối với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.