Chương I: Cơ sở lý luận và một số vấn đề liên quan Chương II: Khảo sát nhu cầu của khách Trung Quốc khi du lịch tại Việt Nam Chương III: Một số đề xuất nhằm đẩy mạnh hoạt động khai thác khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Giải thích một số thuật ngữ liên quan Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều có ngành du lịch. Nếu căn cứ theo định nghĩa của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) “Du lịch là hoạt động di chuyển đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm” [15] thì có thể thấy rằng hoạt động du lịch đã có từ hàng ngàn năm về trước.
Ngay trong thời kỳ cổ đại với các nền văn hóa lớn như AiCập, Hy Lạp hoặc ngay như ở xã hội phong kiến Trung Quốc, Việt Nam, đã sớm xuất hiện hình thức đi du lịch dù là hoạt động mang tính tự phát hay có kế hoạch (ví dụ các vị vua quan Trung Quốc ngày xưa vẫn thường có những cuộc “du sơn ngọa thủy”), các cuộc hành hương về các thánh địa, đất thánh, đềnchùa, các nhà thờ thiên chúa giáo. thì bản chất vẫn là những hoạt động “du lịch” nếu nói theo ngôn ngữ của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn là khách du lịch Trung Quốc tại Việt Nam, thị trường du lịch Việt Nam. cho nên trong phần này chúng tôi sẽ không giới thiêu các khái niệm liên quan đến du lịch của nhiều quốc gia mà chỉ chủ yếu của Việt Nam và Trung Quốc.
Luật du lịch của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 09/2017/QH14 mới ban hành có quy định rõ các thuật ngữ liên quan đến lĩnh vực du lịch như sau [16]: 1. Du lịch “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.” 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khách du lịch Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch bao gồm: 1) Khách du lịch nội địalà công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ởViệt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.
2) Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch. 3) Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch ra nước ngoài. Ngoài những thuật ngữ được giải thích rõ trong Luật du lịch Việt Nam trên, một số khái niệm chúng tôi sử dụng trong luận văn cũng cần phân biệt: Khách Inbound: Chỉ khách du lịch quốc tế, Việt kiều ở nước ngoài đến thăm quan du lịch Việt Nam. Ví dụ khách Trung Quốc đến Việt Nam sẽ là khách Inbound.
Khách Outbound: Người Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam đi thăm quan các nước khác. Sản phẩm du lịch “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”. (Theo Luật Du lịch Việt Nam) Từ định nghĩa này có thể thấy rằng, chất lượng của những sản phẩm du lịch có ảnh hưởng quan trọng và quyết định đến nhu cầu của khách du lịch.Việc tạo ra những sản phẩm phù hợp và không ngừng thay đổi, cải tiến để phù hợp với tâm lý và nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi những người hoạt động trong ngành du lịch phải rất linh hoạt, sáng tạo vì chỉ cần một bộ phận nhỏ trong hệ thống sản phẩm du lịch không tốt thì sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh chung của toàn bộ các dịch vụ du lịch. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Một số cơ sở lý luận liên quan đến đề tài 1. Lý thuyết về các nhu cầu cơ bản của con ngƣời Khi nghiên cứu về nhu cầu của con người, không thể không nhắc tới thang nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970). Đây là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh. Tháp nhu cầu Maslow được áp dụng cho rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị kinh doanh, nhất là với các ngành dịch vụ mà điển hình là ngành du lịch-nhà hàng-khách sạn.
Đây là lý thuyết về tâm lý được xem là có giá trị nhất trong hệ thống lý thuyết tâm lý mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình kim tự tháp. Cấu trúc tháp nhu cầu (Nguồn: Subiz.com) Tầng thứ nhất (PHYSIOLOGICAL): Các nhu cầu sinh lý cơ bản nhất của con người như thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. Tầng thứ hai (SAFETY): Nhu cầu về cảm giác an toàn, con người cần 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
Tầng thứ ba (BELONGING): Nhu cầu được giao tiếp xã hội và được trực thuộc - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. Tầng thứ tƣ (ESTEEM): Nhu cầu được coi trọng con người cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng. Tầng thứ năm (SELF-ACTUALIZATION): Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, con người luôn muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt. Maslow nhấn mạnh rằng những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp (nhu cầu thể lý) phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn.
Các nhu cầu bậc cao hơn sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng lớn khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ. Lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow là cơ sở lý luận quan trọng cho người viết trong quá trình thực hiện đề tài, nhất là khi xây dựng các bảng hỏi ở chương II. Từ góc độ quản trị kinh doanh, người viết cho rằng nếu các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch chú ý phân tích được những nhu cầu cơ bản của khách du lịch trong suốt quá trình du lịch thì sẽ thu hút được lượng lớn khách hàng tìm đến dịch vụ của công ty mình cũng như tăng thêm tỷ lệ khách mới, khách quay lại. Nhất là với đối tượng khách du lịch Trung Quốc, do hai nước có nhiều sự tương đồng về phong tục, tập quán, văn hoá, tư tưởng.
cho nên việc phân tích và nắm bắt tâm lý cũng như nhu cầu của du khách Trung Quốc khá thuận lợi so với khách du lịch đến từ những quốc gia khác. Lý thuyết về hành vi du lịch Một cơ sở lý luận quan trọng khác để người viết có thể triển khai được đề tài luận văn đó là các cơ sở lý luận về hành vi du lịch. Nó bao gồm các nội dung cơ bản dưới đây: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm hành vi du lịch: Hành vi du lịch (旅游行为) là chỉ những đặc trưng lựa chọn vềđịa điểm, mùa du lịch, mục đích và phương thức du lịch của khách du lịch cũng như những yếu tố có quan hệ mật thiết với nó là khái niệm, hiệu ứng và các đặc trưng nhu cầu du lịch (Chu The Cuong 周世强,1998). Hiểu ngắn gọn thì hành vi du lịch là chỉ những hoạt động vui chơi, giải trí cụ thể của khách du lịch tại nơi mà khách du lịch đến để du lịch.
Hành vi du lịch có quan hệ với tính chất và đặc trưng về môi trường du lịch của điểm du lịch đó. Hành vi du lịch là tiêu chí cơ bản nhất của khách du lịch, bao gồm nhiều tầng lớp và loại hình khác nhau. Phân tích những hành vi du lịch là cơ sở để tìm hiểu và nhận định về thị trường du lịch, là kiến thức cơ sở quan trọng cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch [6]. Những yếu tố cơ bản tạo nên một hành vi du lịch: Tác giả Dien Loi Quan (田利军) trong cuốn Tâm lý học du lịch (旅游 心理学 ) (Nxb.Đại học Nhân dân Trung Quốc, tháng 8/2006) viết, để giải thích được những hành vi du lịch của du khách là việc khó, bởi vì có rất nhiều nhân tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi của khách du lịch.
Nhìn chung, một hành vi du lịch thường được cấu thành bởi ba yếu tố: 1) Quá trình hoạt động tâm lý của người tiêu dùng du lịch; 2) Trạng thái tâm lý của người tiêu dùng du lịch; 3) Môi trường, hoàn cảnh du lịch. Những nhân tố ảnh hƣởng đến hành vi du lịch [7] Tác giả Ly Quang Vu (李光宇) trong cuốn Khái luận du lịch học (旅游 学概论) chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi du lịch là: 1) Nhân tố khách quan: Nhu cầu du lịch là nhân tố tâm lý cơ bản để khách du lịch thực hiện hoạt động du lịch của mình. Nhu cầu như thế nào thì sẽ tạo ra các động cơ du lịch tương ứng. Vì vậy, động cơ và hành vi vừa là quá trình được tạo ra bởi 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành vi du lịch, vừa là quá trình quyết định hành vi của người đi du lịch.
Một người có thể trở thành “người đi du lịch” và thực hiện các “hoạt động du lịch”, trước hết luôn luôn chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội. Cụ thể hơn, những điều kiện để một người có ý niệm về “nhu cầu du lịch” và thực hiện các “hoạt động du lịch” đó là: a) Những điều kiện chủ quan của bản thân người đi du lịch, gồm mức thu nhập và thời gian nhàn rỗi. b) Khả năng cung cấp, đáp ứng của địa điểm du lịch: các yếu tố thuộc vềđiểm đến như thức ăn, chỗ ở, vui chơi, giải trí. cũng là một trong những nhân tố quyết định hành vi du lịch.