CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về thành ngữ Trên phương diện về ngôn ngữ học, thành ngữ luôn là đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm, là mảnh đất màu mỡ được đào xới bởi sự phong phú về mặt nội dung điều này được thể hiện rất rõ qua sự đa dạng trong quan niệm về thành ngữ. “Thành ngữ là cụm từ cố định hoàn chỉnh về cấu trúc và ngữ nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm” (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến (2001, tr. Tương tự, theo Lê Thị Nhân (như Nguyễn Văn Tú, trong sách Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, tr.181 đã trích dẫn) “Thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh.
Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.” Hay “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên” (“Phân biệt thành ngữ với tục ngữ”). Tác giả Hoàng Văn Hành trong Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, lại cho rằng: “Theo cách hiểu thông thường, thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng với những chức năng như từ.21)” Ngoài ra, theo từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học “Thành ngữ là những cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.” (Conu, 2008, đoạn 1) Trong tiếng Anh, thành ngữ lại được định nghĩa: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà nghĩa của chúng không được trực tiếp nhận ra từ nghĩa của các từ riêng lẻ trong thành ngữ” (O’Dell & McCarthy, 2017, tr.
Hay thành ngữ là những cách biểu đạt mà ý nghĩa của nó thường khó hiểu bằng cách nhìn vào các cụm từ riêng lẻ (Gairns & Redman, 2013). Thành ngữ là cách diễn đạt giúp chúng ta mô tả một tình huống chính xác theo một cách khác, sáng tạo hơn. Chúng chia sẻ thông tin văn hóa và lịch 7 sử và mở rộng sự hiểu biết về ngôn ngữ của mọi người. Thành ngữ xây dựng những điểm khác biệt của ngôn ngữ này so với ngôn ngữ khác.
Và thú vị hơn nữa thành ngữ đôi khi có thể phản ánh một số truyền thống văn hóa cũng như tính cách con người (Digital Polyglot, 201, đoạn 1). Dưới đây là một vài ví dụ về việc sử dụng thành ngữ trong tiếng Anh: For the birds I don’t want to go that the party because it’s for the birds! Ở trong câu này, thành ngữ for the birds được sử dụng có nghĩa là chán nản. Tôi không muốn đến bữa tiệc đó bởi vì nó rất chán. Như vậy chúng ta có thể thấy nghĩa của thành ngữ for the birds nó không phụ thuộc vào từng từ ngữ của câu.
For the birds có nghĩa là không thú vị và vô nghĩa (uninteresting and meaningless) – Collis (2007, tr. 8 Khi nói đến Break a leg theo nghĩa đen chúng ta sẽ nghĩ đến việc gãy chân, nhưng break a leg thường được dụng trước những buổi thuyết trình hay lên sân khấu biểu diễn và ý nghĩa của thành ngữ này là Chúc may mắn! / Chúc bạn diễn tốt nhé! A: Hey! Break your leg in your test tomorrow. (Cám ơn) Rain like cats and dogs (idioms): to rain very heavily (Cambridge Dictionary) Rain like cats and dogs có nghĩa là mưa như trút nước, mưa rất to. − Don’t forget to take your umbrella – it’s raining like cats and dogs out there (Đừng quên mang dù theo nhé! Ngoài trời đang mưa rất to) The band's number one hit was just a flash in the pan [something that happens only once] − Bản hit số một của ban nhạc chỉ xảy ra duy nhất một lần 9 Little Jimmy has been as quiet as a mouse [extremely quiet] all day.
− Jimmy bé nhỏ đã im lặng suốt cả ngày We arrived safe and sound [safely]. − Chúng ta đã đến nơi một cách an toàn Mark and Alistair don't see eye to eye. [don't agree with each other] − Mark và Alistair không đồng tình với nhau Từ các ví dụ trên, hầu hết những thành ngữ mang nghĩa khác biệt hoàn toàn so với từ ngữ trong cụm thành ngữ. Chúng ta không nói “rain like cats and dogs” là mưa như nhiều chó với mèo, “break a leg” là gãy chân, “as quite as a mouse” là im lặng như những chú chuột.
Qua những định nghĩa và những ví dụ đã nhắc đến, khái niệm thành ngữ trong nghiên cứu này được xác định như sau: Thành ngữ là một cách diễn đạt ngôn từ, mà những thành tố (từ) trong cụm thành ngữ không mang ý nghĩa như chúng biểu hiện, thành ngữ thường được dùng với mục đích giao tiếp hàng ngày, những cụm thành ngữ thường ngắn gọn, hàm súc, mang tính biểu đạt cao. Nguồn gốc của thành ngữ trong tiếng Anh Người bản xứ sử dụng thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, quen thuộc đến mức đôi khi chính bản thân họ cũng không cần phải biết đến nguồn gốc của chúng. Vậy thành ngữ ra đời từ khi nào? Và nguồn gốc của nó xuất phát từ đâu. Theo Đỗ Thị Thu Hương (2013, tr.
1) “thành ngữ mang đầy đủ trong mình những đặc trưng văn hóa, tinh thần, phong tục tập quán, thói quen, nếp cảm nếp nghĩ của một dân tộc”, cho nên chắc chắn rằng thành ngữ đã trường tồn với bề dày lịch sử lâu dài, đi cùng lịch sử của một quốc gia, gắn liền với sự phát triển ngôn ngữ của quốc gia đó. Bằng chứng là có rất nhiều thành ngữ cổ với nguồn gốc từ những năm của thế kỉ XV. Bark is worse than one’s bite → Tiếng sủa tồi tệ hơn vết cắn → Nguồn gốc: Xuất hiện từ giữa những năm 1600. Ám chỉ những người có vẻ đang giận dỗi, tức tối, khó chịu nhưng thật ra họ không nguy hiểm và tâm địa họ không có gì ác độc cả.
To turn a blind eye → Nhắm mắt cho qua. → Trong Trận chiến Copenhagen vào năm 1801, tổng chỉ huy của lực lượng hải quân của vương quốc Anh, đô đốc hải quân Hyde Parker đã sử dụng cờ hiệu ra lệnh cho phó đô đốc Horatio Nelson ngừng tấn công một hạm đội tàu Đan Mạch. Nelson giơ ống nhòm lên con mắt mù của mình và nói "Tôi thật sự không thấy hiệu lệnh" và tiếp tục tấn công. Sau thành công đó, đô đốc Hyde Parker đã bị giáng chức và Nelson trở thành tổng tư lệnh hạm đội (Ngọc Nga, 2020).
Crocodile tears → Nước mắt cá sấu/ Buồn khổ, đau đớn giả tạo. → Cụm từ này xuất phát từ một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu từ thời Trung Cổ mang tên The Travels of Sir John Mandeville, một tác phẩm cực kỳ nổi tiếng lúc đương thời. Nhưng thực tế, phần lớn những câu chuyện trong cuốn sách này đều là hư cấu. Một trong những câu chuyện phiêu lưu đến vùng đất Châu Á trong cuốn tiểu thuyết này, tác giả đã miêu tả cá sấu là một loài bò sát không có lưỡi chuyên lừa gạt con người rồi để ăn thịt, và trong khi ăn thịt nó, con cá sấu chảy nước mắt.Truyền thuyết về một loài cá sấu khóc trong khi nhai con mồi trong miệng mình cùng với việc 11 Shakespeare đã góp phần khiến ý niệm “nước mắt cá sấu” trở nên phổ biến hơn (Lost bird, 2019).
Burning the candle at both ends → Mô tả tình trạng vắt kiệt sức lực, làm việc đêm ngày. Nghĩa đen của câu này là "đốt nến ở cả 2 đầu” → Cách nói này có nguồn gốc từ thế kỷ 17, trong đó “both ends” chỉ hai đầu nến theo đúng nghĩa đen. Nến sáp thời đó là đặc quyền của những người giàu, còn các gia đình nghèo dùng cây bấc để làm nến. Họ lấy thân cây, ngâm trong mỡ nóng và kết quả là có một cây nến mỏng, hơi cong, được cố định bằng giá đỡ.
Cây nến tự chế này được đốt cả hai đầu để tạo ra nhiều ánh sáng hơn. Mỗi cây mất 20 phút để cháy hết, và quãng thời gian đó trở thành một đơn vị đo lường (Helino, 2019). My ears are burning. → Tôi biết rằng ai đó đang nói xấu sau lưng tôi.
→ Thành ngữ này bắt nguồn từ một mê tín của người La Mã cổ đại: nếu bạn bỗng nhiên cảm thấy ngứa ran hoặc nóng rát ở tai trái có nghĩa là ai đó đang nói những điều xấu hoặc âm mưu chống lại bạn. Nhưng cảm giác ở tai phải của bạn lại có nghĩa là ai đó đang khen ngợi bạn hoặc là một dấu hiệu của sự may mắn. Dần dần, dấu hiệu này chỉ còn được hiểu là có ai đó đang thì thầm to nhỏ sau lưng bạn (Lost Bird, 2019). Từ những ví dụ trên, có thể thấy thành ngữ đã tồn tại tất rất lâu đời, gắn liền với đời sống của người bản xứ, thành ngữ được hình thành dựa trên nhiều cơ sở, từ quan sát chủ đề tài xin đưa ra nhận định của mình về cơ sở hình thành nên thành ngữ: 1.
Thành ngữ có nguồn gốc những sự kiện lịch sử Steal somebody’s thunder → Đánh cấp ý tưởng của người khác. → Đây là thành ngữ bắt nguồn từ sự kiện nhà soạn kịch John Dennis thế kỷ 18 đã công bố phát minh ra một thiết bị tạo nên tiếng sấm cho vở kịch sân khấu mà ông sản xuất Appius và Virginia ở London vào năm 1704. Cách này đã bị các đối thủ sản xuất cho vở Macbeth sao chép, Dennis đã phàn nàn họ đánh cắp tia chớp của ông. 12 Take the piss → Chọc cười người khác hoặc làm người ta thấy mình ngớ ngẩn → Nguồn gốc của cụm từ lóng này đến từ các kênh đào ở Anh.
Trước khi thuốc nhuộm nhân tạo được phát minh, nước tiểu được lấy và sử dụng làm nguyên liệu nhuộm len để tạo nên các màu sắc như màu xanh da trời. Vận chuyển nước tiểu đến các xưởng len không thuận lợi như vận chuyển nước tiểu, vì vậy khi người chèo thuyền bị ai hỏi đang chở gì thì anh ta sẽ nói dối, và nói "Tôi đang chở rượu". Bất cứ ai nghi ngờ, nếu bị hỏi nữa, thì anh ta có thể trả lời "Tôi đang đi tiểu" (Ngọc Nga, 2020).