Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chi Olax thuộc họ Dương đầu (Olacaceae) gồm khoảng 40 loài phân bố chủ yếu tại các khu vực rừng nhiệt đới và xavan ở châu Á và châu Phi. Tại Việt Nam, loài dương đầu Olax imbricata Roxb. (còn gọi là dương đầu kết lợp, cây cát lộ, dây mao trật) lần đầu tiên được ghi nhận tại vùng núi Đakrông thuộc tỉnh Quảng Trị, sau đó được tìm thấy rải rác ở Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Phú Yên. Trong y học dân gian, các bộ phận của cây dương đầu thường được nhân dân sử dụng làm dược liệu điều trị một số chứng bệnh. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về thành phần hóa thực vật và tác dụng dược lý của loài này tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Phần lớn các tài liệu quốc tế tập trung vào các loài khác cùng chi như Olax dissitiflora, Olax andronensis, Olax mannii, Olax nana, hoặc Olax psittacorum. Nhằm thiết lập luận cứ khoa học cho việc khai thác nguồn dược liệu tự nhiên bản địa, tác giả Trịnh Thị Thủy đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: "Khảo sát thành phần hoá học phân đoạn ET20 của cao methanol điều chế từ rễ cây dương đầu (Olax imbricata Roxb.)" dưới sự hướng dẫn của TS. Võ Thị Ngà tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Khảo sát thành phần hoá học của chiết xuất n-hexane từ rễ cây dương đầu bằng kỹ thuật phân tích sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS).
  2. Phân tách, tinh sạch và xác định cấu trúc hoá học của hợp chất tinh khiết phân lập được từ phân đoạn OM-Et20 thuộc cao methanol (MeOH).

Đối tượng nghiên cứu là cao chiết n-hexane và cao chiết MeOH được điều chế từ rễ cây dương đầu (Olax imbricata Roxb.). Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào nguồn mẫu rễ cây thu hái tại thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; mẫu được nhận danh thực vật bởi chuyên gia từ Công ty nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung và lưu trữ tiêu bản với mã số UTE-A002 tại Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Về mặt thời gian, mẫu thực vật được thu thập vào tháng 8 năm 2020 và các nội dung thực nghiệm phân lập, đo phổ được hoàn thành vào tháng 8 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống phân loại học thực vật và các công bố hóa thực vật về các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp thuộc chi Olax, bao gồm:

  • Phân loại thực vật học: Cây dương đầu thuộc giới Plantae, lớp Magnoliopsida, bộ Santalales, họ Olacaceae, chi Olax, loài Olax imbricata Roxb.
  • Khung lý thuyết thành phần hóa học: Tổng quan các nhóm hợp chất tự nhiên đặc trưng đã được phân lập từ chi Olax gồm nhóm acid béo acetylenic (santalbic acid, exocarpic acid, octadec-9,11-diynoic acid, (E)-henicos-7-en-9-ynoic acid); nhóm triterpenoid và saponin triterpenoid (olaxoside, glutinol, rhoiptelenol, các dẫn xuất oleanolic acid); nhóm sesquiterpenoid tropolone ngưng tụ; nhóm flavonoid glycoside (các dẫn xuất kaempferol, quercetin, morin); nhóm hợp chất phenolic glycosidic (leonuriside A) và các hợp chất chứa nitrogen (S-ethenylcysteine, methyl salicylate, (Z)-docos-13-enamide).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và trang thiết bị được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp chiết xuất: Chiết hồi lưu bột rễ cây bằng dung môi ethanol (EtOH) 96°, sau đó phân đoạn lỏng-lỏng bằng n-hexane và MeOH dưới áp suất giảm trên hệ thống cô quay chân không.
  • Phương pháp phân tích acid béo: Chuyển hóa acid béo thành dẫn xuất methyl ester (FAME) theo phương pháp tiêu chuẩn AOAC 996.06 (Association of Official Analytical Chemists) và phân tích định tính, định lượng bằng hệ thống GC-MS.
  • Phương pháp sắc ký tách phân đoạn và tinh chế:
    • Sắc ký cột (SKC) hấp phụ pha đảo với chất nhồi là hạt nhựa Diaion HP-20 (kích thước hạt 0,6 – 0,8 mm, Mitsubishi, Nhật Bản).
    • Sắc ký cột nhanh hút chân không (VLC) sử dụng pha tĩnh silica gel pha đảo LiChroprep RP-18 (kích thước hạt 0,040 – 0,063 mm, Merck, Đức).
    • Sắc ký lỏng hiệu năng cao phân tích (HPLC/UV-PDA) trên hệ thống Jasco (Nhật Bản) sử dụng cột phân tích RP-18 (250 × 4,6 mm, 5 µm) để khảo sát thành phần pha động và thời gian lưu.
    • Sắc ký điều chế (SKĐC) trên hệ thống Pure C-835 Prep Advance (Buchi, Thụy Sĩ) tích hợp đầu dò UV và ELSD, sử dụng cột điều chế RP-18 (250 × 20 mm, 9 µm) để phân tách và tinh sạch hợp chất.
  • Phương pháp xác định cấu trúc phân tử: Sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1D-NMR: 1H-NMR, 13C-NMR), phổ hai chiều (2D-NMR: 1H-1H COSY, HSQC, HMBC, NOESY) kết hợp với sắc ký lỏng ghép khối phổ hai lần (LC-MS/MS).

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp tại Phòng thí nghiệm Hóa Hữu cơ và Phòng thí nghiệm Công nghệ cao thuộc Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh; dữ liệu GC-MS được đo tại Trung tâm phân tích kỹ thuật cao Sài Gòn; dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR được đo tại Phòng NMR thuộc Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về cây dương đầu (Olax imbricata Roxb.) và các công trình nghiên cứu liên quan đến chi Olax. Tác giả mô tả đặc điểm hình thái thực vật của loài: cây bụi đứng thường xanh, thân gỗ cao từ 2 đến 6 m, cành non màu xám, thân màu nâu; lá dai hình trứng hoặc elip thuôn dài (7 – 10 cm), không lông; hoa mọc thành chùm nhỏ màu trắng hoặc hơi vàng (dài 1,5 – 2,5 cm) ra hoa từ tháng 4 đến tháng 10; quả hạch hình cầu hoặc trứng ngược bao bọc bởi đài hoa.

Phần tổng quan hóa học phân loại chi tiết các nghiên cứu trước đây theo từng nhóm hợp chất:

  • Nhóm chất béo: Phân lập ba acid béo từ Olax dissitiflora (Mavundza et al., 2016); ba hợp chất béo acetylenic lần đầu được phân lập từ rễ O. imbricata gồm (E)-henicos-7-en-9-ynoic acid, (E)-henicos-7-en-9-ynoylglycerol và 7,8,9,10-tetrahydroxyhexadeca-4,10-diynoic acid (Vo Thi Nga et al., 2018).
  • Nhóm terpenoid và saponin: Triterpenoid saponin olaxoside từ Olax andronensis có tác dụng kháng viêm và nhuận tràng (Provost, 1981); hợp chất sesquiterpenoid tropolone ngưng tụ từ rễ O. imbricata (Huong T. Nguyen et al., 2019); ba hợp chất triterpenoid glycoside dẫn xuất từ oleanolic acid từ rễ O. imbricata (Vo Thi Nga et al.).
  • Nhóm flavonoid và hợp chất phenolic: 17 hợp chất flavonoid glycoside và 2 hợp chất kaempferol triglycoside từ lá cây Olax mannii (Okoye et al.); các phenolic glycoside từ rễ O. imbricata (Huynh et al., 2015, 2018) như leonuriside A; các polyphenol từ lá Olax nana (Ovais et al., 2018).
  • Nhóm alkaloid và chứa nitrogen: S-ethenylcysteine từ rễ Olax phyllanthi (Thumfort et al., 1993); (Z)-docos-13-enamide và methyl salicylate từ lá Olax psittacorum (Majumder et al., 2020).
  • Hoạt tính sinh học: Tác giả dẫn chứng các thử nghiệm in vitro về hoạt tính kháng oxy hóa (kích hoạt yếu tố Nrf2, giảm nồng độ gốc oxy phản ứng ROS), kháng khuẩn của hạt nano Ag-Cu tổng hợp từ lá Olax scandens, bảo vệ gan chống độc tính CCl4, chống trầm cảm của Olax subscorpioidea, và hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập từ O. imbricata trên các dòng tế bào ung thư người gồm MCF-7 (vú), HepG2 (gan), và LU (phổi) với giá trị IC50 đạt 16,94 µM đối với hợp chất sesquiterpenoid tropolone.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

Nội dung chương trình bày chi tiết toàn bộ quy trình xử lý mẫu, điều chế cao và các thông số vận hành kỹ thuật sắc ký:

  • Xử lý mẫu và điều chế cao: 50,0 kg rễ tươi sau khi làm sạch, sấy khô ở nhiệt độ 60 – 70°C và xay nhỏ thu được 7,0 kg bột rễ khô. Tiến hành ngâm chiết hồi lưu với dung môi EtOH 96°, cô hồi lưu dung môi dưới áp suất giảm thu được 1,5 kg cao thô EtOH. Hòa tan cao EtOH vào n-hexane, thu hồi phần tan được 600,0 g cao n-hexane. Phần bã không tan tiếp tục được hòa tan hoàn toàn trong MeOH, cô quay thu được 750,0 g cao MeOH.
  • Phân đoạn trên cột Diaion HP-20: Lấy 200,0 g cao MeOH hòa tan trong nước cất bằng bể siêu âm tạo hỗn dịch đậm đặc, nạp lên cột sắc ký hạt nhựa Diaion HP-20 pha đảo. Tiến hành giải ly với hệ dung môi có độ phân cực giảm dần EtOH-H2O theo tỷ lệ: 20% EtOH (OM-Et20), 40% EtOH (OM-Et40), 60% EtOH (OM-Et60), 80% EtOH (OM-Et80), 96% EtOH (OM-Et96) và xả cột bằng acetone. Thu được 54,30 g phân đoạn OM-Et20.
  • Phân đoạn sắc ký cột chân không (VLC) silica gel RP-18: Lấy 50,0 g mẫu OM-Et20 phối trộn với silica gel RP-18 tạo bột khô tơi xốp, nạp vào cột pha đảo RP-18 hút chân không. Giải ly bằng hệ MeOH-H2O với tỷ lệ giảm dần độ phân cực: (2:8), (4:6), (5:5), (6:4), (10:0) và xả bằng acetone. Thu được 5 phân đoạn tương ứng: OM-Et20-Me20, OM-Et20-Me40 (2,75 g), OM-Et20-Me50, OM-Et20-Me60, OM-Et20-Me100. Phân đoạn OM-Et20-Me40 được chọn để tinh chế tiếp.
  • Khảo sát HPLC phân tích và điều chế (Prep-HPLC):
    • Khảo sát HPLC/UV-PDA: Cột RP-18 (250 × 4,6 mm, 5 µm), pha động nước (A) và MeOH (B), chạy gradient từ 25% đến 60% B trong 60 phút, tốc độ dòng 1 mL/phút, bước sóng phát hiện 203 và 254 nm. Tác giả phát hiện một mũi sắc ký chính tại thời gian lưu tR = 13,8 phút tại bước sóng 254 nm.
    • Sắc ký điều chế phân đoạn OM-Et20-Me40: Hòa tan 2,75 g mẫu trong 30 mL dung môi MeOH-H2O (30:70), lọc qua màng PTFE 0,22 µm. Cột Prep RP-18 (250 × 20 mm, 9 µm), pha động dung môi A (H2O + 0,1% acid formic) và B (MeOH). Áp suất tối đa 4000 psi, tốc độ dòng 7 mL/phút, tiêm mẫu 2,5 mL/lần (thực hiện lặp lại 14 lần). Chương trình gradient dung môi: cân bằng cột 0 – 15 phút (32% B), rửa giải 0 – 45 phút (32% → 45% B), 45 – 60 phút (45% B). Thu gom peak xuất hiện ở tR = 32,2 – 36,2 phút (ứng với nồng độ MeOH 41 – 42%), thu được 13,2 mg phân đoạn ký hiệu OM-Et20-Me40-P1.
    • Tinh chế hợp chất TT1 (TT01): Mẫu OM-Et20-Me40-P1 (13,2 mg) được hòa tan trong hệ CH3CN-H2O (15:85), lọc qua màng PTFE 0,22 µm. Chạy sắc ký điều chế đẳng dung với hệ dung môi CH3CN-H2O (15:85) có bổ sung 0,1% HCOOH, tốc độ dòng 7 mL/phút, thể tích tiêm 2,5 mL/lần (bơm lặp lại 3 lần) trên cùng cột Prep RP-18 để tách hoàn toàn 2 mũi tạp dính kề, thu được hợp chất sạch ký hiệu TT1.
Thông số vận hành HPLC phân tích khảo sát SKĐC phân tách OM-Et20-Me40 SKĐC tinh chế hợp chất TT1
Loại cột Silica gel RP-18 (250 × 4,6 mm; 5 µm) Silica gel RP-18 (250 × 20 mm; 9 µm) Silica gel RP-18 (250 × 20 mm; 9 µm)
Hệ pha động MeOH - H2O MeOH - H2O (+ 0,1% HCOOH) CH3CN - H2O (15:85) (+ 0,1% HCOOH)
Chế độ rửa giải Gradient 25% → 60% MeOH (60 phút) Gradient 32% → 45% MeOH (45 phút) Đẳng dung (Isocratic 15% CH3CN, 60 phút)
Tốc độ dòng 1,0 mL/phút 7,0 mL/phút 7,0 mL/phút
Bước sóng dò 203 nm và 254 nm 203 nm và 254 nm 203 nm và 254 nm
Khối lượng mẫu Khảo sát vết phân tích 2,75 g (tiêm 2,5 mL × 14 lần) 13,2 mg (tiêm 2,5 mL × 3 lần)
Thời gian lưu peak tR = 13,8 phút tR = 32,2 – 36,2 phút Tinh sạch mũi đơn TT1

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được về thành phần hóa học:

  • Phân tích GC-MS chiết xuất hexane: Phân tích định tính và định lượng các hợp chất acid béo sau methyl hóa theo chuẩn AOAC 996.06 cho thấy phổ thành phần các acid béo mạch thẳng no và không no đặc trưng trong rễ cây dương đầu, làm sáng tỏ tiềm năng hóa thực vật của phân đoạn kém phân cực.
  • Kết quả phân lập và tinh chế hợp chất: Bằng quy trình kết hợp nhiều giai đoạn sắc ký hấp phụ pha đảo và sắc ký điều chế hai lần (gradient MeOH-H2O và đẳng dung CH3CN-H2O), tác giả đã tách thành công hợp chất TT1 dưới dạng chất sạch từ phân đoạn OM-Et20-Me40.
  • Xác định cấu trúc hợp chất TT1: Cấu trúc phân tử của TT1 được làm sáng tỏ dựa trên phân tích tương quan các tín hiệu quang phổ:
    • Phổ 13C-NMR và 1H-NMR: Tác giả so sánh chi tiết các độ dịch chuyển hóa học (δC và δH), hình dạng mũi phổ (singlet, doublet, multiplet) và hằng số ghép (J) của TT1 với hợp chất đối chiếu đã công bố là Olaximbriside A. Kết quả phổ carbon cho thấy các tín hiệu đặc trưng của khung sesquiterpenoid ngưng tụ với vòng tropolone bảy cạnh cùng các carbon của phần đường (glycoside).
    • Phổ 2D-NMR: Tương quan 1H-1H COSY xác định liên kết giữa các proton liền kề trong khung phân tử; phổ HSQC làm sáng tỏ tương quan một liên kết trực tiếp giữa 1H và 13C; phổ HMBC chỉ ra các tương tác dị hạt nhân tầm xa qua 2, 3 liên kết giúp ghép nối khung cacbon, vị trí gắn nhóm thế methyl, hydroxyl và vị trí liên kết glycoside; phổ NOESY xác định cấu hình không gian tương đối của các tâm bất đối.
    • Phổ LC-MS/MS: Dữ liệu phân mảnh khối phổ cung cấp khối lượng phân tử chính xác và khối lượng các mảnh ion đặc trưng, khẳng định hợp chất TT1 là một sesquiterpenoid tropolone glycoside mới chưa từng được công bố trong các tài liệu trước đây.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể và mang lại những đóng góp khoa học sau:

  • Khảo sát và xác định thành phần hóa học của chiết xuất n-hexane từ rễ Olax imbricata bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS theo tiêu chuẩn AOAC 996.06.
  • Thiết lập quy trình phân tách hiệu quả đối với cao chiết methanol từ rễ cây dương đầu thông qua 4 cấp phân đoạn: từ 200,0 g cao thô MeOH tách qua cột Diaion HP-20 thu được 54,30 g phân đoạn OM-Et20; từ 50,0 g OM-Et20 qua cột chân không silica gel RP-18 thu được 2,75 g phân đoạn OM-Et20-Me40; từ 2,75 g OM-Et20-Me40 qua hệ thống SKĐC gradient MeOH-H2O thu được 13,2 mg phân đoạn OM-Et20-Me40-P1; và tinh sạch hoàn toàn hợp chất TT1 bằng hệ SKĐC đẳng dung CH3CN-H2O (15:85 có 0,1% HCOOH).
  • Phân lập và giải mã thành công cấu trúc phân tử của hợp chất TT1 bằng các kỹ thuật phổ nghiệm 1D-NMR, 2D-NMR và LC-MS/MS, chứng minh hợp chất này là một sesquiterpenoid tropolone glycoside mới.
  • Đóng góp về mặt lý luận và khoa học: Bổ sung dữ liệu cấu trúc vào ngân hàng dữ liệu hóa thực vật học về các hợp chất tự nhiên có khung tropolone ngưng tụ quý hiếm từ loài Olax imbricata Roxb. tại Việt Nam.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp thông số vận hành thực nghiệm chuẩn xác (tỷ lệ pha động, áp suất, loại cột, bước sóng phát hiện) cho các nghiên cứu chiết tách, tinh chế các hợp chất phân cực tương tự từ nguồn dược liệu họ Olacaceae.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi thực hiện của một đề tài tốt nghiệp đại học:

  • Nghiên cứu chỉ tập trung phân lập sâu trên một phân đoạn duy nhất là OM-Et20 (và tiểu phân đoạn OM-Et20-Me40) của cao MeOH. Bốn phân đoạn cồn còn lại của cột Diaion HP-20 (OM-Et40, OM-Et60, OM-Et80, OM-Et96) và phân đoạn dịch rửa acetone chưa được tiến hành khảo sát hóa học.
  • Đề tài mới dừng lại ở việc tách chiết, tinh sạch và xác định cấu trúc hóa học của hợp chất TT1; chưa thực hiện khảo sát các hoạt tính sinh học in vitro hoặc in vivo (như hoạt tính gây độc tế bào, kháng viêm, kháng oxy hóa) đối với hợp chất tinh khiết TT1 trong phạm vi khóa luận này.
  • Phân đoạn cao n-hexane chỉ mới dừng ở mức gửi mẫu phân tích thành phần acid béo qua GC-MS tại đơn vị phân tích dịch vụ bên ngoài, chưa tiến hành phân lập đơn chất từ cao n-hexane.

Các hướng mở tiếp theo được đề xuất:

  • Tiếp tục khảo sát thành phần hóa học của các phân đoạn còn lại từ cột Diaion HP-20 nhằm tìm kiếm thêm các dẫn xuất sesquiterpenoid tropolone hoặc saponin triterpenoid mới.
  • Tích lũy lượng mẫu tinh khiết của hợp chất TT1 để tiến hành đánh giá hoạt tính sinh học, đặc biệt là hoạt tính gây độc tế bào ung thư (dòng MCF-7, HepG2, LU) tương tự như các hợp chất khung tropolone đã công bố trước đây từ loài này.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và định hướng nghiên cứu sau:

  • Sinh viên và học viên sau đại học: Chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Hóa dược và Công nghệ Thực phẩm có thể tham khảo tài liệu như một quy trình thực nghiệm mẫu về phương pháp làm việc với các hợp chất tự nhiên phân cực cao khó phân tách.
  • Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm phân tích: Tham khảo quy trình vận hành chi tiết của hệ thống sắc ký điều chế Buchi Pure C-835 Prep Advance, bao gồm các bước từ khảo sát điều kiện trên HPLC phân tích (cột 4,6 mm), tính toán mở rộng quy mô lên cột điều chế (cột 20 mm), thiết lập chương trình gradient có phụ gia acid formic đến bước tinh chế đẳng dung dung môi acetonitrile.
  • Nghiên cứu cấu trúc phổ: Phần luận giải phổ 1D và 2D-NMR đối chiếu với Olaximbriside A cung cấp dữ liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu khi giải mã các hợp chất glycoside phức tạp có khung sesquiterpene ngưng tụ bảy cạnh (tropolone).

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu thực vật rễ cây dương đầu trong khóa luận được thu hái ở đâu và tiêu bản được lưu trữ tại đơn vị nào?
Mẫu rễ cây dương đầu (Olax imbricata Roxb.) được thu hái tại thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên vào tháng 8 năm 2020. Mẫu được nhận danh thực vật bởi ông Hoàng Xuân Lâm (Công ty nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung) và được lưu giữ tiêu bản thực vật dưới mã số UTE-A002 tại Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Quy trình xử lý nguyên liệu thô ban đầu để thu nhận cao MeOH được thực hiện như thế nào?
Từ 50,0 kg rễ tươi, sau khi sấy ở 60 – 70°C và nghiền nhỏ thu được 7,0 kg bột khô. Bột rễ được chiết hồi lưu với dung môi EtOH 96° thu hồi được 1,5 kg cao thô EtOH. Cao EtOH tiếp tục được phân bố với n-hexane thu được 600,0 g cao n-hexane. Phần bã không tan trong n-hexane được hòa tan với dung môi MeOH và cô quay thu hồi dung môi thu được 750,0 g cao thô MeOH.

3. Phân đoạn OM-Et20 và OM-Et20-Me40 được tách ra bằng những kỹ thuật sắc ký nào với dung môi gì?
Phân đoạn OM-Et20 (54,30 g) được tách từ 200,0 g cao thô MeOH bằng sắc ký cột hấp phụ hạt nhựa Diaion HP-20 pha đảo, giải ly bằng hệ EtOH-H2O (2:8). Sau đó, 50,0 g OM-Et20 được nạp lên cột sắc ký chân không silica gel RP-18 pha đảo, giải ly bằng hệ MeOH-H2O (4:6) để thu nhận 2,75 g phân đoạn OM-Et20-Me40.

4. Điều kiện sắc ký điều chế (SKĐC) được sử dụng để tinh chế hợp chất TT1 là gì?
Quá trình tinh chế gồm 2 bước trên cột Silica gel RP-18 (250 × 20 mm, 9 µm) với tốc độ dòng 7 mL/phút:

  • Bước 1: Phân tách 2,75 g OM-Et20-Me40 bằng chương trình gradient MeOH-H2O (có 0,1% acid formic) từ 32% đến 45% MeOH, tiêm 2,5 mL/lần (14 lần tiêm), thu được 13,2 mg phân đoạn OM-Et20-Me40-P1 tại thời gian lưu 32,2 – 36,2 phút.
  • Bước 2: Tinh chế 13,2 mg OM-Et20-Me40-P1 bằng chế độ đẳng dung hệ CH3CN-H2O (15:85 có 0,1% acid formic), tiêm 2,5 mL/lần (3 lần tiêm) để loại bỏ hoàn toàn hai mũi tạp phụ kề bên, thu được hợp chất sạch TT1.

5. Hợp chất TT1 được xác định thuộc nhóm chất nào và bằng những phương pháp phổ nào?
Hợp chất TT1 được xác định là một sesquiterpenoid tropolone glycoside mới. Cấu trúc của TT1 được làm sáng tỏ thông qua phân tích và so sánh dữ liệu phổ 1H-NMR, 13C-NMR với hợp chất Olaximbriside A, kết hợp với các phổ tương tác hai chiều 1H-1H COSY, HSQC, HMBC, NOESY và sắc ký lỏng ghép khối phổ hai lần LC-MS/MS.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trịnh Thị Thủy đã thực hiện khảo sát thành phần hóa học của chiết xuất n-hexane và phân đoạn OM-Et20 của cao methanol từ rễ cây dương đầu (Olax imbricata Roxb.) thu hái tại Phú Yên. Nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình phân tách đa bậc kết hợp sắc ký cột Diaion HP-20, sắc ký chân không silica gel RP-18 và sắc ký điều chế Prep-HPLC để tinh sạch hợp chất mục tiêu. Bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại (1D/2D-NMR và LC-MS/MS), cấu trúc của hợp chất phân lập TT1 đã được chứng minh là một sesquiterpenoid tropolone glycoside mới, đóng góp dữ liệu khoa học vào việc nghiên cứu nguồn dược liệu chi Olax tại Việt Nam.