Chương 1: TỔNG QUAN 1. THỰC VẬT HỌC 1. Họ Rau răm (Polygonaceae) Họ Rau răm hay còn gọi là họ Nghể, họ Kiều mạch có danh pháp khoa học là Polygonaceae bao gồm khoảng 1.200 loài [24], phân bố trong 43-53 chi. Các chi lớn nhất là Eriogonum (240 loài), Rumex (200 loài), Coccoloba (120 loài), Persicaria (100 loài) và Calligonum (80 loài) [22], [51].
Họ này có mặt rộng khắp trên thế giới, nhưng đa dạng nhất tại khu vực ôn đới Bắc bán cầu, còn trong khu vực nhiệt đới thì có số lượng loài ít hơn. Họ Polygonaceae là một nhóm thực vật hai lá mầm gồm các cây thân thảo, cây bụi, cây thân gỗ nhỏ, đôi khi là dây leo. Lá thường mọc cách, các lá kèm ở gốc lá dính lại với nhau thành 1 ống gọi là bẹ chìa. Cụm hoa kép gồm nhiều xim, hoa nhỏ thường lưỡng tính ít khi đơn tính, hoa đều không có cánh hoa, đài gồm 3-6 mảnh, màu lục trắng hay đỏ hồng; nhị 6 xếp thành 2 vòng, đôi khi 9 nhị; nhụy gồm 3 lá noãn, ít nhiều dính lại, bầu trên, chứa một noãn thẳng ở đáy.
Quả đóng hạt có phôi thẳng và nội nhũ bột lớn. Dây leo quấn, lá hình tim, rễ phình thành củ. Tên gọi khoa học của họ dựa trên chi Polygonum và lần đầu tiên được Antoine Laurent de Jussieu sử dụng năm 1789 trong sách Genera Plantarum của ông [9]. Tên gọi này là chỉ tới nhiều mắt phồng lên trên thân của nhiều loài.
Nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp poly nghĩa là nhiều và goni nghĩa là đầu gối hay khớp. Ở Việt Nam, theo Phạm Hoàng Hộ, họ Rau răm (Polygonaceae) có 47 loài đánh số thứ tự từ 2968 đến 3025 [2], có tài liệu lại cho rằng có 11 chi, 45 loài [107]. Đỗ Tất Lợi cũng liệt kê 11 loài trong những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [4]. Một số thành viên trong họ này được biết đến như là kiều mạch, chút chít, đại hoàng, nghể, rau răm, hà thủ ô đỏ, ti gôn v.
Luận văn Thạc sĩ 3 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 1. Chi Reynoutria Trên thế giới chi Reynoutria bao gồm 28 loài [108] gồm các loại cây mọc lâu năm, có hoa đực và hoa cái ở khác thân. Thân rễ dày đặc. Thân cây thẳng đứng, to, rỗng.
Lá đơn, mọc so le, có cuống lá, phiến lá hình trứng hoặc hình trứng - elip, mép lá nguyên vẹn; bẹ chìa không đối xứng. Hoa đơn tính hình chùy mọc thành cụm hoa ở nách lá; bao hoa liên tục có 5 phiến; hoa có 3 cánh, hoa cái có cánh nằm xa trục. vòi nhụy 3, đầu nhụy có lông ở rìa. Quả hình trứng, có mặt cắt tam giác [95].
Chi Reynoutria có nguồn gốc ở Đông Á, nó được di thực vào châu Âu vào thế kỷ 19 dưới dạng cây cảnh. Một số loài thuộc chi Reynoutria bao gồm: Reynoutria forbesii (Hance) Yamazaki (ut fargesii), Reynoutria Japonica var. compacta, Reynoutria baldschuanica (Regel) Shinners, Reynoutria cilinodis (Michx.) Shinners, Reynoutria convolvulus (L.) Shinners, Reynoutria Japonica Houtt. Schmidt ex Maxim.) Nakai, Reynoutria scandens (L.
Gray) Shinners, Reynoutria scandens (L.) Shinners, Reynoutria scandens (L. Các loài này thường thấy ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, cộng hòa Séc [14], [109]. Ở Việt Nam cho đến nay cốt khí củ (Reynoutria Japonica Houtt.) là loài duy nhất thuộc chi này được định danh khoa học. Cốt khí củ (Reynoutria Japonica Houtt.) Cốt khí củ có tên gọi khác là hoạt huyết đan, điền thất, hổ trượng căn, phù linh, nam hoàng cầm, co hớ hườn (Thái), mèng kẻng (Tày), hồng lìu (Dao) [1].
Tên khoa học: Reynoutria Japonica Houtt., tên đồng nghĩa là Reynoutria Mak., Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc, Reynoutria elata Nak. Theo phân loại thực vật học cốt khí củ thuộc: Giới: Thực vật; Ngành: Magnoliophyta; Lớp: Magnoliopsida; Bộ: Polygonales; Họ: Polygonaceae; Phân họ: Polygonoideae; Chi: Reynoutria [107]. Luận văn Thạc sĩ 4 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 Cốt khí củ là loại cây nhỏ, sống lâu năm.
Rễ phình thành củ cứng, mọc bò nghiêng dưới đất, vỏ ngoài màu nâu đen, ruột màu vàng. Thân hình trụ, nhẵn, mọc thẳng đứng, cao 0,5-1 m, thường có những đốm màu tía hồng. Lá mọc so le, cuống ngắn, hình trứng, đầu tù, hơi nhọn, mép nguyên, dài 5-12 cm, rộng 3,5-8 cm, mặt trên màu lục sẫm, có khi nâu đen; bẹ chìa ngắn. Cụm hoa ngắn hơn lá, mọc thành chùm ở kẽ lá; hoa nhỏ màu trắng, hoa đực và hoa cái riêng; bao hoa có 5 phiến; hoa đực có 8 nhị; hoa cái có bầu 3 góc.
Quả 3 cạnh màu nâu đỏ, mùa hoa quả vào tháng 10-11. Cốt khí củ có nguồn gốc ở vùng Đông Á, sau lan xuống khắp các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, bao gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Lào và một vài nơi khác. Ở Việt Nam, cây mọc hoang dại ở vùng núi cao, từ 1000 - 1600 m và được trồng rải rác trong nhân dân ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Cốt khí củ ưa sáng, ưa ẩm, nhưng ráo nước (úng ngập dễ làm thối củ) thường mọc thành khóm trong các thung lũng, nơi gần nguồn nước.
Cây rụng lá vào mùa đông, ra hoa quả nhiều hàng năm, có khả năng mọc chồi từ thân rễ. Cây sinh trưởng mạnh từ mùa xuân đến mùa thu, bắt đầu cho thu hoạch củ từ tháng 9 trở đi, nên thu hoạch vào những ngày nắng ráo trong mùa đông, khi phần thân lá bắt đầu héo hoặc cũng có thể thu hoạch vào đầu mùa xuân, trước khi cây tái sinh. Củ cốt khí (radix Polygoni cuspidati) là rễ phơi hay sấy khô của cây cốt khí củ, rễ cốt khí củ thu hái quanh năm, tốt nhất vào thu đông, rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ con, thái thành miếng nhỏ dày chừng 1-2 cm, phơi hoặc sấy khô. Dược liệu có mặt ngoài nâu xám, sần sùi, nhăn nheo theo chiều dọc, có các mấu đốt và gióng, mặt cắt ngang màu vàng bẩn, lõi gần như rỗng, phần không rỗng có màu nâu sẫm.
Chất nhẹ, hơi cứng, mùi không rõ, vị hơi đắng [1]. Luận văn Thạc sĩ 5 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 Hình 1. Một số hình ảnh về cây cốt khí củ 1. ỨNG DỤNG Theo y học cổ truyền, rễ cốt khí củ có vị đắng, tính ấm.
Quy kinh can, tâm bào với công năng hoạt huyết thông kinh, chỉ thống, trừ phong thấp, thanh thấp nhiệt, tiêu viêm, sát khuẩn. Ở Việt Nam rễ cốt khí củ thường được dùng để chữa tê thấp, tổn thương đau đớn do bị ngã, bị thương, là một vị thuốc thu liễm cầm máu. Trong bộ Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (Trung Quốc - thế kỷ 16), vị thuốc này có tác dụng lợi tiểu, thông kinh, giảm đau, giảm độc, dùng cho những người bị kinh nguyệt bế tắc, kinh nguyệt khó khăn đau đớn, đẻ xong huyết ứ, bụng trướng, tiểu tiện khó khăn [4]. Luận văn Thạc sĩ 6 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 Trong y học cổ truyền Trung Quốc cốt khí củ được gọi là Zhang Hu, được sử dụng để điều trị các tổn thương viêm, viêm gan, các khối u, tiêu chảy, hạ sốt, giảm đau, lợi tiểu, tiêu đờm và được liệt kê chính thức trong Dược điển Trung Hoa [19].
Sử dụng trong các phương pháp điều trị đau khớp, viêm phế quản mãn tính, vàng da, vô kinh và huyết áp cao [31]. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC Trong thành phần hóa học nổi bật của rễ cốt khí củ, hai nhóm chất chính chiếm hàm lượng lớn là các anthranoid (chủ yếu là anthraquinon) và các stilbenoid. Đây là các thành phần hóa học quyết định cho nhiều hoạt tính có giá trị của cốt khí củ như kháng khuẩn, kháng u, chống ung thư, chống oxy hóa, phòng ngừa bệnh tim mạch… Bên cạnh đó nó cũng bao gồm nhiều nhóm hợp chất khác như flavonoit, phenylpropanoid, phenol, ancaloit, quinon, axit amin… với nhiều tác dụng sinh học đáng chú ý tương hỗ, bổ trợ với hai nhóm hợp chất chính làm cho cốt khí củ có hoạt tính sinh dược học cao. Anthranoid Năm 2005, nhóm của Chu X và cộng sự đã phân lập được các anthraquinon từ cặn chiết ethanol 95% của củ cốt khí là emodin (1), physcion (2), anthraglycosid B (hay emodin-8-O-β-D-glucosid) (3) [21].
Liu và cộng sự phân lập được anthraglycosid A (physcion-8-O-β-D-glucopyranosid) (4) [72]. Từ cặn chiết metanol 80% sử dụng phương pháp sắc ký lỏng ghép nối khối phổ (LC–ESI-MS), Bin Shan và cộng sự đã xác định sự có mặt của emodin-8-O- (6’-O-malonyl)-glucosid (5), emodin-1-O-glucosid (6) [13]. Nó cũng được phân lập cùng với một hợp chất oestrogenic mới là citreorosein (7) vào năm 2009 [105]. Luận văn Thạc sĩ 7 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 Sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) kết hợp với detector UV cũng đã nhận biết được các hợp chất chrysophanol (8), rhein (9), (4), (3), (2), (1) có trong rễ cốt khí củ [25].
Trong công bố của Guangsheng Qian năm 2006 có đề cập đến sự có mặt của falacinol (10), questinol (11) trong rễ cốt khí củ [36]. Hai anthraquinon malonylglucosid mới được Huan Zhang và cộng sự phân Luận văn Thạc sĩ 8 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 lập là polyganins A (emodin-8-O-β-D-(6’-methylmalonyl)-glucopyranosid) (13) và polyganins B (physcion-8-O-β-D-(6’-methylmalonyl)-glucopyranosid) (14) từ cặn chiết EtOAc của dịch chiết EtOH 95% rễ cốt khí củ [46]. Stilben và dẫn xuất Năm 2005, nhóm của Chu X và cộng sự đã phân lập được các stilben từ cặn chiết ethanol 95% của củ cốt khí là resveratrol (15), piceid (16) [21]. Năm 2009, bằng phương pháp sắc kí pha đảo với chất hấp phụ PDVB-SPG và kết tinh lại, Dalei Zhang và cộng sự đã phân lập, tinh chế được (16), (15) đạt độ tinh khiết tương ứng là 98,8%, 98,2% [23].
Hai hợp chất này cũng được phân lập bằng phương pháp sắc ký phân bố ngược dòng tốc độ cao (HSCCC) từ cặn chiết EtOAc với hiệu suất 2,18% (15) và 1,07% (16) so với khối lượng mẫu khô ban đầu [68]. Một dẫn xuất của stilben là 1-(3’,5’-dihydroxyphenyl)-2-(4’’-hydroxyphenyl)- etan-1,2-diol (17) cũng được phân lập từ dịch chiết 60% axeton nước của rễ cốt khí củ [57]. Năm 2007, Nguyễn Đình Tuấn và cộng sự đã định lượng hợp chất (15) trong cốt khí củ trồng ở Việt Nam bằng phương pháp sắc ký lỏng ghép nối khối phổ (LC- MS) là 0,27% [6]. Luận văn Thạc sĩ 9 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thanh Hà Cao học Hóa K21 Sự có mặt của các hợp chất piceatannol glucosid (18), resveratrolosid (19), piceid gallate A (20), picied gallate B (21) trong cốt khí củ được xác định nhờ sự kết hợp của kĩ thuật sắc ký lỏng kết hợp với UV và ion hóa khối phổ (HPLC / UV / ESI-MS) [87].