Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, sở hữu hệ sinh thái thực vật phong phú và đa dạng với gần 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo. Trong số đó, hơn 3.800 loài thực vật bậc cao và bậc thấp đã được ghi nhận và ứng dụng làm thuốc chữa bệnh trong y học cổ truyền. Thống kê dược học hiện đại cho thấy có khoảng 60% đến 70% các loại thuốc chữa bệnh đang lưu hành hoặc đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng có nguồn gốc tự nhiên hoặc phát triển từ các hoạt chất chiết xuất từ thảo mộc (như rutin, D-strophanthin, berberin, palmatin, L-tetrahydropalmatin).

Cây Mỏ quạ (danh pháp khoa học: Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, thuộc họ Dâu tằm – Moraceae) là một loài dược liệu dân gian quen thuộc. Theo kinh nghiệm y học phương Đông, cây Mỏ quạ có vị đắng nhẹ, tính mát, công năng lương huyết, hoạt huyết phá ứ, khứ phong, thư cân hoạt lạc; thường được dùng trong các bài thuốc chủ trị chấn thương sưng đau, phong thấp lưng gối mỏi, phụ nữ kinh bế, lao phổi, viêm gan và điều trị vết thương phần mềm. Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học giá trị trong loài này như flavonoid, isoflavonoid, xanthone, dẫn xuất phenolic có khả năng gây độc tế bào ung thư, chống oxy hóa, kháng viêm (thông qua ức chế con đường NF-κB và MAPK, giảm sản sinh NO, $PGE_2$, $TNF-\alpha$, $IL-1\beta$), bảo vệ tế bào thần kinh, chống béo phì và ức chế enzyme PTP1B hỗ trợ cải thiện tình trạng kháng insulin.

Mặc dù có tiềm năng dược lý to lớn, tại thời điểm năm 2017, các nghiên cứu chuyên sâu về thành phần hóa học của cây Mỏ quạ sinh trưởng tại Việt Nam còn rất hạn chế. Để góp phần làm sáng tỏ thành phần hóa thực vật của loài cây này, khóa luận tốt nghiệp "Khảo sát sơ bộ thành phần hóa học phân đoạn diclometan cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata)" đã được tác giả Chử Thị Phương Thu thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Lê Tuấn Anh tại Viện Hóa sinh biển – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 nội dung chính:

  1. Thu thập mẫu lá cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata), xử lý sơ bộ nguyên liệu và tạo dịch chiết tổng metanol.
  2. Phân tách và phân lập các hợp chất tinh khiết từ phân đoạn chiết diclometan ($CH_2Cl_2$) của mẫu lá cây Mỏ quạ.
  3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp quang phổ hiện đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu lá cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, họ Moraceae).
  • Phạm vi nghiên cứu: Phân đoạn chiết phân bố bằng dung môi diclometan ($CH_2Cl_2$); thực hiện phân lập các hợp chất hữu cơ bằng sắc ký và giải cấu trúc phân tử tại Phòng Nghiên cứu cấu trúc, Viện Hóa sinh biển – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết hóa thực vật và chiết tách

Nghiên cứu dựa trên lý thuyết chiết tách các hợp chất thiên nhiên và hóa học hữu cơ. Quá trình chiết dựa vào định luật phân bố chất tan giữa hai pha lỏng không hòa tan vào nhau (chiết lỏng - lỏng) để làm giàu và phân đoạn nhóm hợp chất có độ phân cực trung bình và kém phân cực vào pha hữu cơ diclometan.

Phương pháp phân tách và sắc ký

Để tách và tinh chế các hợp chất, đề tài áp dụng tổ hợp các kỹ thuật sắc ký:

  • Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng pha thường tráng sẵn silica gel $60\ F_{254}$ (Merck 1.05715) và bản mỏng pha đảo $RP_{18}\ F_{254s}$ (Merck). Phát hiện vết chất dưới đèn tử ngoại ở bước sóng $\lambda = 254\text{ nm}$ và $\lambda = 368\text{ nm}$, kết hợp phun thuốc thử dung dịch axit sunfuric ($H_2SO_4$) 10% rồi hơ nóng.
  • Sắc ký cột pha thường (CC): Sử dụng chất hấp phụ silica gel cỡ hạt $0,040 - 0,063\text{ mm}$ ($240 - 430\text{ mesh}$).
  • Sắc ký cột pha đảo: Sử dụng silica gel pha đảo ODS hoặc YMC (kích thước hạt $30 - 50\ \mu\text{m}$, Fuji Silysia Chemical Ltd.).
  • Hệ dung môi rửa giải: Hỗn hợp hexan/axeton với tỷ lệ phân cực tăng dần (từ 0% đến 100% axeton), hỗn hợp hexan/diclometan/metanol (tỷ lệ thể tích 4/10/0,1) và hỗn hợp hexan/etyl axetat (tỷ lệ thể tích 2/1).

Phương pháp xác định cấu trúc hóa học và thiết bị đo

  • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR): Ghi trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer tại Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Các phép đo gồm:
    • Phổ cộng hưởng từ proton một chiều ($^1\text{H-NMR}$) ở tần số $500\text{ MHz}$, chất nội chuẩn Tetrametylsilan (TMS).
    • Phổ cộng hưởng từ cacbon một chiều ($^{13}\text{C-NMR}$) ở tần số $125\text{ MHz}$.
    • Phổ phổ biến biến dạng tăng cường phân cực (DEPT 135 và DEPT 90) để phân biệt các nhóm metyl ($-CH_3$), metylen ($-CH_2-$), metin ($=CH-$) và cacbon bậc bốn.
    • Phổ tương quan hai chiều ($^1\text{H}-^{13}\text{C}\text{ HSQC}$, $^1\text{H}-^{13}\text{C}\text{ HMBC}$, NOESY) nhằm xác định liên kết trực tiếp, liên kết xa qua 2-3 liên kết và tương tác không gian giữa proton và cacbon.
  • Độ quay cực: Đo trên thiết bị phân cực kế tự động JASCO DIP - 1000 KUY.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài:

  • Thực vật học: Cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata) thuộc chi Cudrania (hoặc Maclura), họ Dâu tằm (Moraceae). Loài cây bụi gai, sống tựa, cành dài mềm có nhựa mủ trắng; rễ trụ cứng cáp có khả năng đâm xuyên qua đá; lá mọc so le phiến xoan thuôn; hoa đơn tính khác gốc mọc nách lá; quả hạch kép nạc màu đỏ khi chín.
  • Phân bố và công dụng y học cổ truyền: Phân bố ở Đông Á (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản) và mọc hoang hoặc trồng làm hàng rào từ Bắc vào Nam tại Việt Nam. Các bộ phận rễ, lá, quả được dùng điều trị chấn thương, phong thấp, đau nhức xương khớp, ho ra máu, lao phổi, vết thương hở.
  • Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học đã công bố: Tổng kết các nhóm chất chính gồm 31 dẫn xuất xanthone (như cudraxanthone, cudratricusxanthone, isocudraniaxanthone...), 30 hợp chất isoflavonoid/flavonoid ức chế men lipase tụy, cùng các hợp chất steroid ($\beta$-sitosterol, daucosterol). Nêu bật các bằng chứng dược lý quốc tế về khả năng chống oxy hóa, kháng viêm qua ức chế enzyme iNOS/COX-2 và giảm phóng thích cytokine tiền viêm ($TNF-\alpha$, $IL-6$, $IL-1\beta$), gây độc trên dòng tế bào ung thư vú MCF-7, MDA-MB-231.
  • Lý thuyết chiết và phổ nghiệm: Trình bày nguyên lý chiết lỏng - lỏng, lỏng - rắn, sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng và các kỹ thuật phổ nghiệm ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, 2D-NMR, IR, MS).

Chương 2: Mẫu thực vật và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết quy trình xử lý thực nghiệm và trang thiết bị nghiên cứu:

  • Mẫu lá cây Mỏ quạ được thu hái, làm sạch tạp chất, phơi/sấy khô và xay nhỏ.
  • Quy trình chiết ngấm kiệt với metanol ở nhiệt độ phòng. Dịch chiết gom lại, cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm bằng máy cất quay chân không thu được cặn chiết tổng metanol.
  • Hòa cặn tổng metanol vào nước cất ($1\text{ L}$), chuyển vào phễu chiết và tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng với dung môi hữu cơ diclometan ($CH_2Cl_2$, mỗi lần $1\text{ L}$, lắc đều, để phân lớp qua đêm, lặp lại 3 lần).
  • Tách riêng lớp diclometan (pha dưới) và lớp nước (pha trên). Lọc, cất loại dung môi thu được $80,0\text{ g}$ cặn chiết diclometan và $30,0\text{ g}$ cặn nước.
  • Quy định điều kiện chạy sắc ký mỏng khảo sát và sắc ký cột tinh chế.

Chương 3: Thực nghiệm phân lập và hằng số vật lý

Chương này mô tả chi tiết các bước sắc ký phân lập từ $80,0\text{ g}$ cặn diclometan:

  • Phân đoạn sơ bộ lần 1: Hòa tan $80,0\text{ g}$ cặn diclometan vào metanol tối thiểu, trộn đều với silica gel pha thường theo tỷ lệ khối lượng $1 : 1,5$, cô đuổi dung môi đến khô và nghiền mịn. Tiến hành sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi hexan/axeton (tăng dần từ 0% đến 100% axeton, mỗi phân đoạn $1\text{ L}$), thu được 8 phân đoạn ký hiệu từ A1 đến A8.
  • Phân đoạn phân đoạn A7: Phân đoạn A7 ($7,2\text{ g}$) được phân tách qua sắc ký cột pha đảo với hệ dung môi axeton/nước ($2,5/1\text{ v/v}$, thể tích $2,5\text{ L}$) thu được phân đoạn A7C ($1,8\text{ g}$).
  • Phân tách phân đoạn A7C: Sắc ký cột pha thường phân đoạn A7C ($1,8\text{ g}$) với hệ dung môi hexan/diclometan/metanol ($4/10/0,1\text{ v/v/v}$, thể tích $2,0\text{ L}$) thu được 4 phân đoạn nhỏ ký hiệu từ A7C1 đến A7C4.
  • Tinh chế thu nhận chất sạch: Phân đoạn A7C2 được tinh chế qua cột sắc ký silica gel pha thường rửa giải bằng hệ dung môi hexan/etyl axetat ($2/1\text{ v/v}$, thể tích $1,2\text{ L}$), phân lập thành công hai hợp chất sạch:
    • Hợp chất 1 (Ký hiệu: MQ21): Khối lượng thu được $11\text{ mg}$, dạng bột vô định hình màu trắng.
    • Hợp chất 2 (Ký hiệu: MQ23): Khối lượng thu được $8\text{ mg}$.

Chương 4: Kết quả và thảo luận cấu trúc

Chương này trình bày toàn bộ quá trình lập luận và quy kết tín hiệu phổ để xác định cấu trúc hóa học của 2 hợp chất phân lập được:

Biện giải cấu trúc hợp chất 1 (MQ21: Aurantiamide acetate)

  • Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ ($500\text{ MHz}, CDCl_3$) cho thấy:
    • Sự xuất hiện của 15 proton thuộc 3 hệ thống thơm $AA'BB'C$ đặc trưng của 3 vòng phenyl mang nhóm thế đơn.
    • Hai tín hiệu proton nhóm amit ($-NH-$) ở $\delta_H 6,75\text{ ppm}$ ($1H, d, J = 8,0\text{ Hz}$) và $\delta_H 5,97\text{ ppm}$ ($1H, d, J = 8,0\text{ Hz}$).
    • Tín hiệu 2 proton oxymetylen ($-CH_2-O-$) tại $\delta_H 3,92\text{ ppm}$ ($1H, dd, J = 11,5; 5,0\text{ Hz}$, H-10a) và $\delta_H 3,82\text{ ppm}$ ($1H, dd, J = 11,5; 4,0\text{ Hz}$, H-10b).
    • Tín hiệu proton của một nhóm axetyl ($-OCOCH_3$) dạng mũi đơn tại $\delta_H 2,04\text{ ppm}$ ($3H, s$).
  • Phổ $^{13}\text{C-NMR}$ ($125\text{ MHz}, CDCl_3$) và DEPT hiển thị đủ 27 nguyên tử cacbon:
    • 3 nhóm cacbonyl: $\delta_C 170,79\text{ ppm}$ (nhóm este), $\delta_C 170,28\text{ ppm}$ và $\delta_C 167,13\text{ ppm}$ (hai nhóm amit).
    • 2 nhóm metin chứa nitơ/oxy tại $\delta_C 54,99\text{ ppm}$ và $\delta_C 49,47\text{ ppm}$.
    • 1 nhóm oxymetylen tại $\delta_C 64,60\text{ ppm}$ (C-10).
    • 2 nhóm metylen benzyl tại $\delta_C 38,42\text{ ppm}$ và $\delta_C 37,45\text{ ppm}$.
    • 18 nguyên tử cacbon thơm thuộc 3 vòng benzen, bao gồm 3 cacbon bậc bốn ở $\delta_C 136,71\text{ ppm}$, $\delta_C 136,63\text{ ppm}$ và $\delta_C 133,68\text{ ppm}$.
    • 1 nhóm metyl axetat ở $\delta_C 20,79\text{ ppm}$.
  • Phổ tương quan HMBC khẳng định vị trí nhóm este: proton H-3 ($\delta_H 2,75\text{ ppm}$) tương tác với C-2 ($\delta_C 49,47$), C-4 ($\delta_C 137,6$) và C-10 ($\delta_C 64,60$); proton H-12 ($\delta_H 2,04$) và H-10 tương tác với C-11 ($\delta_C 170,79$), chứng minh vị trí gắn nhóm axetyl tại C-10. Kết hợp so sánh tài liệu tham khảo, hợp chất 1 được xác định là Aurantiamide acetate ($C_{27}H_{28}N_2O_4, M = 444\text{ g/mol}$).

Biện giải cấu trúc hợp chất 2 (MQ23: Aurantiamide)

  • Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ và $^{13}\text{C-NMR}$ của chất 2 có độ tương đồng lớn với hợp chất 1, bao gồm 15 proton của 3 vòng thơm $AA'BB'C$, 2 nhóm amit NH ($\delta_H 6,78\text{ ppm}, d, J = 7,5\text{ Hz}$ và $\delta_H 5,92\text{ ppm}, d, J = 8,0\text{ Hz}$), 2 nhóm metin ($\delta_C 55,88\text{ ppm}$), 2 nhóm metylen benzyl ($\delta_C 38,69$ và $36,88\text{ ppm}$) và 2 nhóm amit cacbonyl ($\delta_C 170,78$ và $167,17\text{ ppm}$).
  • Điểm khác biệt mấu chốt: trên phổ của hợp chất 2 hoàn toàn biến mất tín hiệu của nhóm axetyl (không còn tín hiệu methyl este ở $\delta_H \sim 2,04\text{ ppm}$ và $\delta_C \sim 20,79\text{ ppm}$, cũng như cacbonyl este ở $\delta_C \sim 170,79\text{ ppm}$). Tín hiệu nhóm oxymetylen chuyển dịch về $\delta_H 3,43\text{ ppm}$ ($2H, m$) và $\delta_C 63,54\text{ ppm}$.
  • Từ đó, cấu trúc hợp chất 2 được khẳng định là Aurantiamide ($C_{25}H_{26}N_2O_3, M = 402\text{ g/mol}$).

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các hợp chất phân lập từ phân đoạn diclometan cây Mỏ quạ

Ký hiệu mẫu Tên hợp chất Công thức phân tử Khối lượng phân tử ($M$) Dạng tồn tại / Màu sắc Khối lượng phân lập ($mg$)
MQ21 (Hợp chất 1) Aurantiamide acetate $C_{27}H_{28}N_2O_4$ $444\text{ g/mol}$ Bột vô định hình màu trắng $11\text{ mg}$
MQ23 (Hợp chất 2) Aurantiamide $C_{25}H_{26}N_2O_3$ $402\text{ g/mol}$ Bột vô định hình $8\text{ mg}$

Bảng đối chiếu số liệu phổ NMR chính của hai hợp chất

Vị trí / Nhóm chức Aurantiamide acetate (MQ21) Aurantiamide (MQ23) Ghi chú khác biệt
Số lượng C trên $^{13}\text{C-NMR}$ 27 cacbon 25 cacbon Chất 2 ít hơn 2 cacbon (mất gốc axetyl)
Nhóm cacbonyl ($\delta_C, \text{ppm}$) 170,79 (este); 170,28 (amit); 167,13 (amit) 170,78 (amit); 167,17 (amit) Chất 2 chỉ có 2 nhóm carbonyl amit
Nhóm oxymetylen (C-10) $\delta_H 3,92$ & $3,82\text{ ppm}$; $\delta_C 64,60\text{ ppm}$ $\delta_H 3,43\text{ ppm}$; $\delta_C 63,54\text{ ppm}$ Chất 1 bị dịch chuyển về phía trường thấp do gắn este
Nhóm axetyl ($-COCH_3$) $\delta_H 2,04\text{ ppm}$ ($3H, s$); $\delta_C 20,79\text{ ppm}$ Không có tín hiệu Đặc trưng phân biệt giữa 1 và 2
Số proton thơm / vòng thơm 15H (3 hệ thống $AA'BB'C$) 15H (3 hệ thống $AA'BB'C$) Đều chứa 3 vòng thơm không nhóm thế phụ
Nhóm amit (-NH-) $\delta_H 6,75$ ($d, 8,0\text{ Hz}$) & $5,97$ ($d, 8,0\text{ Hz}$) $\delta_H 6,78$ ($d, 7,5\text{ Hz}$) & $5,92$ ($d, 8,0\text{ Hz}$) Tương đồng về cấu trúc khung peptit

Đóng góp khoa học của đề tài

  1. Đã xây dựng thành công quy trình chiết phân đoạn và phân tách sắc ký đa bậc (kết hợp sắc ký cột pha thường và pha đảo) để làm sạch và phân lập các hợp chất tự nhiên từ phân đoạn diclometan của lá cây Mỏ quạ.
  2. Lần đầu tiên phân lập và xác định đầy đủ cấu trúc hóa học bằng dữ liệu phổ 1D- và 2D-NMR của hai dẫn xuất dipeptit biến tính là Aurantiamide acetate và Aurantiamide từ loài Cudrania tricuspidata thu hái tại Việt Nam.
  3. Bổ sung dữ liệu khoa học về thành phần hóa thực vật của chi Cudrania, làm cơ sở dữ liệu định danh cho các nghiên cứu hóa dược và thử nghiệm hoạt tính sinh học tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khóa luận mới chỉ tập trung khảo sát thành phần hóa học trên một phân đoạn chiết hữu cơ trung bình là diclometan ($CH_2Cl_2$), chưa tiến hành phân lập trên phân đoạn cặn nước ($30,0\text{ g}$) hoặc các phân đoạn dung môi có độ phân cực khác.
    • Nghiên cứu dừng lại ở mức độ phân lập và xác định cấu trúc hóa học của 2 hợp chất tinh khiết; chưa tiến hành thử nghiệm đánh giá hoạt tính sinh học trực tiếp (in vitro hoặc in vivo) trên các chủng tế bào đối với hai hợp chất đã phân lập.
  • Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục phân lập sâu trên các phân đoạn sắc ký cột còn lại của cặn diclometan (các phân đoạn A1 đến A6 và A8) cũng như cặn chiết nước để tìm kiếm thêm các hợp chất mới, đặc biệt là nhóm xanthone và flavonoid đặc trưng.
    • Tiến hành đánh giá hoạt tính sinh học (kháng viêm, chống oxy hóa, gây độc tế bào ung thư, ức chế enzyme) của các hợp chất tinh khiết thu được để chứng minh cơ sở dược lý cho việc ứng dụng cây Mỏ quạ trong y học.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Hóa học, Hóa Dược, Dược học và Sinh học: Tài liệu cung cấp quy trình mẫu về phương pháp nghiên cứu hóa học các hợp chất tự nhiên, từ khâu xử lý nguyên liệu, chiết lỏng - lỏng, vận hành sắc ký cột (pha thường, pha đảo) đến kỹ thuật phân tích và giải đoán phổ NMR thực tế.
  • Cán bộ nghiên cứu về hóa thực vật: Phần tổng quan cung cấp hệ thống thông tin thư mục chi tiết về thành phần hóa học của chi Cudrania (với danh mục các khung cấu trúc xanthone, flavonoid đã công bố trên thế giới).
  • Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình sắc ký phân đoạn chi tiết ở Chương 3 và phương pháp luận biện giải mối tương quan giữa các tín hiệu phổ NMR ($^1\text{H}$, $^{13}\text{C}$, DEPT, HSQC, HMBC) để xác định cấu trúc phân tử dipeptit tự nhiên trong Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng và bộ phận thực vật được sử dụng trong đề tài nghiên cứu là gì?

Đối tượng nghiên cứu là lá của cây Mỏ quạ, tên khoa học là Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Mẫu lá được thu hái, xử lý làm sạch, sấy khô và chiết ngấm kiệt bằng dung môi metanol.

2. Từ bao nhiêu gam cặn chiết diclometan đã phân lập được các hợp chất và hiệu suất phân lập ra sao?

Từ $80,0\text{ g}$ cặn chiết diclometan ban đầu, qua các bước sắc ký cột nhiều lần, tác giả đã phân lập được $11\text{ mg}$ hợp chất 1 (Aurantiamide acetate) và $8\text{ mg}$ hợp chất 2 (Aurantiamide).

3. Những hệ dung môi sắc ký nào đã được áp dụng để phân lập thành công hai hợp chất trên?

Quá trình phân lập trải qua 3 hệ dung môi chính trên sắc ký cột:

  • Hệ hexan/axeton với độ phân cực tăng dần (0% – 100% axeton) trên silica gel pha thường để tách cặn tổng thành 8 phân đoạn (A1 – A8).
  • Hệ axeton/nước ($2,5/1\text{ v/v}$) trên cột pha đảo để tinh chế phân đoạn A7 thành A7C.
  • Hệ hexan/diclometan/metanol ($4/10/0,1\text{ v/v/v}$) và hexan/etyl axetat ($2/1\text{ v/v}$) trên cột pha thường để tách và tinh chế các hợp chất sạch từ A7C.

4. Hai hợp chất phân lập được thuộc nhóm chất nào và có cấu trúc ra sao?

Cả hai hợp chất đều là các peptit biến tính tự nhiên (dipeptit) cấu tạo từ các đơn vị phenylalanin biến tính liên kết với nhau qua liên kết amit và mang các vòng benzen tự do:

  • Hợp chất 1: Aurantiamide acetate ($C_{27}H_{28}N_2O_4, M = 444$).
  • Hợp chất 2: Aurantiamide ($C_{25}H_{26}N_2O_3, M = 402$).

5. Dấu hiệu phổ NMR nào giúp phân biệt rõ nét nhất giữa Aurantiamide acetate và Aurantiamide?

Dấu hiệu phân biệt chính là sự hiện diện của nhóm axetyl este trên hợp chất 1 (thể hiện qua mũi đơn tích phân $3H$ ở $\delta_H 2,04\text{ ppm}$, tín hiệu cacbon metyl ở $\delta_C 20,79\text{ ppm}$ và cacbon este ở $\delta_C 170,79\text{ ppm}$). Trên phổ của hợp chất 2, các tín hiệu của nhóm axetyl này hoàn toàn biến mất, đồng thời nhóm oxymetylen (C-10) dịch chuyển từ $\delta_H 3,92; 3,82\text{ ppm}$ ($\delta_C 64,60\text{ ppm}$) ở chất 1 về $\delta_H 3,43\text{ ppm}$ ($\delta_C 63,54\text{ ppm}$) ở chất 2.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Chử Thị Phương Thu đã hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong việc khảo sát thành phần hóa học phân đoạn chiết diclometan từ lá cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata). Bằng việc kết hợp hiệu quả các phương pháp sắc ký cột pha thường và pha đảo, đề tài đã phân lập thành công hai hợp chất sạch là Aurantiamide acetate ($11\text{ mg}$) và Aurantiamide ($8\text{ mg}$). Cấu trúc của các hợp chất đã được làm sáng tỏ một cách chính xác dựa trên hệ thống dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D- và 2D-NMR. Kết quả này cung cấp thêm dẫn liệu hóa thực vật quan trọng cho nguồn dược liệu cây Mỏ quạ tại Việt Nam, đóng góp cơ sở thực nghiệm cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo về hoạt tính sinh học và ứng dụng dược phẩm.