Khảo sát hình thái thể chai và hệ thống não thất ở người lớn trên MRI

Luận văn khảo sát hình thái thể chai và não thất ở người lớn trên cộng hưởng từ. Phân tích chi tiết kích thước, chỉ số và các biến thể giải phẫu học.

Chuyên ngành

Chẩn đoán hình ảnh (Xquang)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn chuyên khoa cấp II

2023

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giải phẫu và cấu trúc hệ thống não thất trên cộng hưởng từ

Hệ thống não thất là một mạng lưới các khoang chứa dịch não tủy trong não bộ, đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ và nuôi dưỡng não. Trên cộng hưởng từ (MRI), các não thất được thể hiện rõ ràng, cho phép các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá chi tiết kích thước, hình dạng và vị trí của chúng. Hệ thống não thất bao gồm hai não thất bên, não thất ba và não thất bốn, được nối kết thông qua các eo não thất. Việc khảo sát đặc điểm hình thái não thất trên MRI giúp phát hiện các bất thường, suy giãn não thất và các biến thể giải phẫu. Tỉ số Evans là một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ giãn não thất, được tính từ đường kính ngang qua não thất bên chia cho đường kính sọ não.

1.1. Các não thất và đặc điểm kích thước

Não thất bên là khoang lớn nhất, chứa phần lớn dịch não tủy. Não thất ba nằm ở giữa với chiều rộng thường từ 3-8mm. Não thất bốn có hình tam giác, nối não thất ba với ống tủy. Các kích thước não thất bình thường thay đổi theo tuổi tác và giới tính. Trên MRI T2W, các não thất hiển thị tín hiệu cao (màu sáng), giúp dễ dàng đo lường và phân loại.

1.2. Các biến thể giải phẫu bình thường

Cavum Septum Pellucidum (CSP) là khoang giữa hai bờ của vách ngăn trong suốt, xuất hiện ở 50-60% dân số bình thường. Cavum Vergae (CV) nằm phía sau CSP. Cavum Velum Interpositum (CVI) là khoang nhỏ phía trên thalamus. Các biến thể não thất này không có ý nghĩa bệnh lý nhưng cần được nhận biết để tránh chẩn đoán nhầm lẫn.

II. Đặc điểm hình thái thể chai trên cộng hưởng từ

Thể chai (corpus callosum) là cấu trúc nằm sâu trong não bộ, là dây thần kinh lớn nhất nối hai bán cầu não. Trên MRI cộng hưởng từ, thể chai được khảo sát rõ ràng trên mặt cắt dọc giữa, cho phép đánh giá chi tiết kích thước thể chai, hình thái và cấu trúc bó sợi. Đặc điểm hình thái thể chai bao gồm chiều dài, chiều rộng gối, chiều rộng thân, chiều rộng lồi và chiều cao tổng thể. Những đo lường này có giá trị trong chẩn đoán các bệnh lý như suy giảm thể chai, tổn thương demyelinating và các dị tật bẩm sinh. Góc thể chai cũng là một chỉ số quan trọng, được đo từ mặt phẳng đứng ngang, phản ánh độ cong của cấu trúc này.

2.1. Các phần giải phẫu của thể chai

Thể chai được chia thành bốn phần: gối (genu) ở phía trước, thân (body) ở giữa, lồi (splenium) ở phía sau, và dây lầu (rostrum) ở dưới cùng. Trên MRI T1W, thể chai hiển thị rõ với tín hiệu trung bình. Mỗi phần có chức năng liên vùng khác nhau, kết nối các vùng não khác nhau giữa hai bán cầu.

2.2. Tương quan với tuổi tác và giới tính

Các kích thước thể chai có mối tương quan với tuổi tác, với xu hướng giảm kích thước ở người cao tuổi do thoái hóa. Đặc điểm thể chai cũng khác biệt giữa nam và nữ, đặc biệt là chiều rộng gối lớn hơn ở nữ giới. Các chỉ số thể chai như tỉ lệ lồi/gối cung cấp thông tin về cân đối cấu trúc này.

III. Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và phương pháp đo lường

Cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp lý tưởng để khảo sát đặc điểm hình thái não thất và thể chai do độ phân giải cao và không sử dụng bức xạ ion hóa. Máy MRI 3 Tesla cung cấp chất lượng hình ảnh tốt, cho phép đo lường chính xác các cấu trúc não. Các chuỗi xung được sử dụng bao gồm T1WT2W, mỗi chuỗi có ưu điểm riêng. Mặt cắt ngang được sử dụng để đánh giá kích thước não thất, trong khi mặt cắt dọc giữa tốt nhất cho khảo sát thể chai. Phương pháp đo lường được chuẩn hóa để đảm bảo độ lặp lại và so sánh giữa các nghiên cứu.

3.1. Chuỗi xung và các mặt cắt

Chuỗi T2W cho phép hiển thị dịch não tủy sáng màu, giúp đo lường não thất dễ dàng. Chuỗi T1W tốt hơn cho khảo sát thể chai vì độ tương phản cao với chất xám xung quanh. Mặt cắt ngangmặt cắt dọc cung cấp thông tin bổ sung về hình thái cấu trúc.

3.2. Các chỉ số đo lường quan trọng

Tỉ số Evans = đường kính não thất bên / đường kính sọ trong, giá trị bình thường < 0,3. Đường kính ngang não thất ba bình thường 3-8mm. Góc thể chaichiều rộng các phần thể chai là những chỉ số được đo trên mặt cắt dọc giữa.

IV. Ứng dụng lâm sàng và ý nghĩa chẩn đoán

Việc khảo sát đặc điểm hình thái não thất và thể chai trên cộng hưởng từ có ứng dụng lâm sàng rộng rãi trong chẩn đoán các bệnh lý thần kinh. Suy giãn não thất (hydrocephalus) được phát hiện thông qua tăng kích thước não thất và tỉ số Evans cao. Dị tật thể chai như vắng mặt hoặc thiểu phát thể chai là dấu hiệu quan trọng của các hội chứng di truyền. Các biến thể não thất bình thường phải được phân biệt với các bệnh lý để tránh chẩn đoán dương tính giả. Sự thay đổi kích thước não thất theo tuổi và giới tính giúp thiết lập các giá trị tham chiếu bình thường cho dân số. Các phát hiện này hỗ trợ bác sĩ trong việc đánh giá tổn thương não, suy nhất, thoái hóa và các bệnh lý khác.

4.1. Chẩn đoán suy giãn não thất

Suy giãn não thất (hydrocephalus) được xác định khi tỉ số Evans > 0,3 hoặc đường kính não thất ba > 10mm. MRI cộng hưởng từ giúp xác định nguyên nhân (tắc nghẽn, rối loạn hấp thu) và mức độ nghiêm trọng. Thay đổi não thất cần theo dõi theo thời gian để đánh giá tiến triển bệnh.

4.2. Đánh giá thoái hóa và biến chứng

Giảm kích thước thể chai có thể chỉ ra thoái hóa não hoặc demyelination. Biến thể não thất bất xứng cần được theo dõi để phát hiện sớm các tổn thương. Các chỉ số từ MRI cung cấp dữ liệu khách quan để đánh giá tiến triển bệnh lý thần kinh.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu hệ thống não thất3,8-10 Hệ thống não thất được chia thành bốn khoang được kết nối với nhau bằng các lỗ và ống. Hai não thất bên nối thông với nhau bằng lỗ gian não thất (hay còn gọi là lỗ Monro) và não thất ba. Não thất ba kết nối với não thất bốn bởi cống não (hay cống Sylvius).

Não thất bốn tiếp tục đi xuống dưới thông với một ống hẹp là ống trung tâm của tuỷ sống, thông với ba lỗ nhỏ ở trần của nó với khoang màng nhện gồm lỗ giữa Magendie và hai lỗ bên Luschka.1: Hệ thống não thất “Nguồn: Atlas giải phẫu người, Frank H. Não thất bên Hai não thất bên là các ngăn trống nằm trong phần dưới và trong mỗi bán cầu não, hai bên đường giữa, ngăn cách nhau bởi vách ở giữa gọi là vách trong suốt, nối với não thất III bởi lỗ gian não thất. Não thất được lót bên trong bởi màng nội tủy mỏng, chứa dịch não tủy. Mỗi não thất bên có phần trung tâm hay thân, và ba phần gọi là các sừng.

Phần trung tâm của não thất bên nằm từ lỗ. 4 gian não thất đến lồi chai. Đây là một xoang nằm cong, khi cắt ngang có hình tam giác, có một mái, một sàn và thành trong. Mái tạo thành bởi mặt dưới của thể chai, sàn được tạo bởi các phần từ trước ra sau là nhân đuôi của thể vân, vân tận cùng và tĩnh mạch tận cùng, phần ngoài của mặt trên đồi thị, đám rối mạch mạc và phần bên của vòm não, thành trong là phần sau của vách trong suốt ngăn cách giữa hai não thất.

Mỗi não thất bên có 4 phần: sừng trán (sừng trước), thân, sừng chẩm (sừng sau) và sừng thái dương (sừng dưới). Sừng trán hướng về phía trước và phía ngoài, nghiêng xuống phía dưới, từ lỗ gian thất thùy trán, uốn thùy trán, uốn cong quanh cực trước của nhân đuôi. Sàn tạo bởi mặt trên của thân và mỏ thể chai. Giới hạn phía trong bởi phần trước của vách trong suốt, phía ngoài bởi đầu nhân đuôi, đỉnh nằm ở mặt sau của gối thể chai.

Sừng chẩm nằm trong thùy chẩm đi hướng xuống dưới và ra ngoài, sau đó lại đi hướng về phía trong. Mái tạo bởi các sợi của thân thể chai, thành trong là một lồi dọc là do khe cựa nhô vào lòng não thất, phía trên lồi này, trụ sau của thân thể chai uốn cong để vào thùy chẩm tạo nên một lồi khác gọi là hành của sừng chẩm. Sừng thái dương là sừng lớn nhất nằm trong thùy thái dương, uốn cong quanh cực sau của đồi thị, lúc đầu hướng về phía sau, ra ngoài, và xuống dưới, sau đó uốn cong lại ở đỉnh thùy thái dương, phần mái chủ yếu tạo bởi mặt dưới của thể chai. Phần sàn chia làm các phần: hải mã, các tia của hải mã, lồi bên và đám rối mạch mạc.

Não thất ba Hình 1.2: Thiết đồ đứng ngang qua não thất ba “Nguồn: Atlas giải phẫu người, Frank H.Netter, 2017”9 Não thất III giống như một đường vạch chẻ giữa hai đồi thị, nó kết nối phía trước với não thất bên qua lỗ gian não thất hay lỗ Monro, phía sau với não thất bốn thông qua cống não thuộc về gian não. Về mặt giải phẫu bao gồm: Thành trước do mảnh các trụ trước thể tam giác và mép trắng trước tạo nên ở hai bên thành này giữa trụ trước thể vòm và đầu trước đồi thị giới hạn lỗ Monro thông với não thất bên. Thành sau là mép cuống tuyến tùng, mép trắng sau não thất III thông với cống não. Thành dưới hay còn gọi là nền não thất III hẹp và có rãnh dưới thị giới hạn với núm vú, củ xám, cuống tuyến yên, giao thoa thị giác, ngách phễu và ngách thị giác.

6 Thành trên còn gọi là mái não thất III nằm dưới thể vòm, thể chai gồm tấm màng mạch và lá biểu mô não thất. Tấm màng mạch gồm hai lá, giữa hai lá chứa mô liên kết và các tĩnh mạch não trong. Hai bên đường dọc giữa chứa đám rối màng mạch não thất III. Đám rối mạch mạc của não thất III được hình thành từ cấu trúc mạch mạc được tạo nên nằm ở thành trên là trần não thất.

mạch máu tạo nên mạch mạc đi xuống dưới mỗi bên của đường giữa, nằm trong bao màng đệm của não thất. Mạch máu cung cấp tạo nên đám rối mạch mạc của não thất III và não thất bên là nhánh màng mạch của động mạch cảnh trong và động mạch nền. Não thất bốn Hình 1.3: Thiết đồ dọc giữa qua não thất bốn “Nguồn: Atlas giải phẫu người, Frank H.Netter, 2017”9 Não thất bốn là một ống nằm ở phần trước của tiểu não, nằm sau cầu não và một nửa trên của hành não. Não thất bốn thuộc trám não có hình cái lều gồm hai phần nền và mái.

Não thất bốn kết nối phía trên là não thất III và phía dưới là ống trung tâm của tủy sống. Não thất bốn thông với khoang dưới nhện bởi ba lỗ ở màng mái, lỗ giữa ở góc dưới gọi là lỗ Magendie và hai lỗ bên ở hai túi. 7 cùng bên gọi là lỗ Luschka, đây là ba đường đi của dịch não-tủy vào khoang dưới nhện. Não thất bốn còn thông với ống nội tủy ở góc dưới và thông với cống não ở góc trên của nền não thất bốn.

Đám rối mạch mạc của não thất bốn có hình chữ T. Hình thành nên đám rối mạch mạc là hai lớp nếp gấp của màng mềm lồi vào trần não thất và được bao phủ bởi màng đệm. Mạch máu cung cấp cho đám rối này là động mạch tiểu não sau trên. Cống não (cống Sylvius) là một ống nhỏ dài được giới hạn phía trên bởi mặt phẳng đi ngang qua mép sau (sát hai củ não sinh tư trên) và mặt phẳng đi ngang qua cực dưới hai củ não sinh tư dưới.

Hai mặt phẳng này thẳng góc với trục dọc của thân não. Chiều dài trung bình là 15mm. Từ phía não thất III đi về phía não thất bốn, kênh này hẹp dần. Bình thường kênh đó có hai chỗ hẹp sẵn, chỗ hẹp trên tương ứng với củ não sinh tư trên, chỗ hẹp dưới ngang mặt phẳng chạy qua giữa hai củ não sinh tư trên và hai củ não sinh tư dưới.

Theo Woollam và Millen (Anh, 1962) đường kính trên cống não từ 0,6 đến 2mm, trung bình 1,3mm. Đường kính chỗ hẹp trên từ 0,2 đến 1, mm, trung bình 0,9mm. Đường kính chỗ hẹp dưới từ 0,4 đến 1,5mm, trung bình 0,8mm kết nối não thất III và não thất bốn. Nó được phân cách bởi lớp màng đệm và được bao phủ bởi một lớp chất xám gọi là chất xám trung tâm.

Cống não dẫn trực tiếp dịch não tủy từ não thất III xuống não thất bốn. Không có đám rối mạch mạc trong cống não. Đám rối mạch mạc Chức năng của đám rối mạch mạc là tiết DNT. Sự tạo DNT ảnh hưởng bởi các men ức chế, hệ thần kinh tự động và lưu lượng tưới máu cho mạch mạc.

Steroids, acetazolamide, các chất lợi tiểu, nhiệt độ thấp, thay đổi độ thẩm thấu của DNT và tăng áp lực nội sọ cấp tính có thể làm giảm sự sản xuất của DNT. Ngoài ra, đám rối mạch mạc cung cấp các peptide và các yếu tố tăng trưởng cho não bộ bao gồm yếu tố tăng trưởng II giống insulin (insulin-like growth factorII, IGF II), yếu tố tăng trưởng biến đổi B (transforming growth. 8 factor B), hoóc môn tăng trưởng (growth hormone), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (fibroblast growth factor), một vài protein tạo hình xương, cũng như là arginine vasopressin. Chức năng khác của đám rối mạch mạc và não thất trong quá trình phát triển của thai kỳ là tạo nên sự lớn lên về hình thể của bộ não, vận chuyển các protein từ máu vào não và đóng vai trò như yếu tố định hướng sự phát triển thần kinh.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy đám rối mạch mạc có vai trò loại bỏ các hóa chất ngoại lai (như kháng sinh) và chất thải nội sinh từ DNT vào máu giống như thận, điều chỉnh DNT và dịch ngoại bào của não. Ở người già, chiều cao của các tế bào biểu mô giảm 10%, màng đáy dày, các động mạch thấm bị phân mảng và dày lên, DNT giảm sản xuất, tuần hoàn DNT kéo dài hơn, giảm thanh thải các chất độc hại. Chức năng của dịch não tủy DNT là môi trường đệm cơ học cho não và tủy sống làm giảm độ căng của các rễ thần kinh, vận chuyển các chất chuyển hóa, độc chất, chất dinh dưỡng, cân bằng nội môi, là môi trường đệm hóa học và phát triển thần kinh. Sự sản xuất dịch não tủy Hầu hết DNT được tiết ra chủ yếu bởi đám rối mạch mạc trong các não thất.

Đám rối mạch mạc được cung cấp máu nhiều gấp 10 lần so với vỏ não và hơn bất kỳ biểu mô bài tiết nào. Khoảng 10 – 30% DNT sinh ra từ sự vận chuyển của dịch mô kẽ. Khi hệ thống não thất bị tắc, DNT cũng sinh ra từ huyết tương qua các khoảng quanh mạch máu trong khoang dưới nhện. Con đường lưu thông của dịch não tủy DNT được sinh ra chủ yếu trong não thất bên, ba và tư với một phần nhỏ có nguồn gốc từ dịch tiết của nhu mô não.

Dòng chảy xảy ra từ các não thất bên vào não thất ba thông qua các lỗ gian não thất, xuống não thất bốn thông qua. 9 cống não, và sau đó ra khỏi não thất bốn thông qua các lỗ đường giữa Magendie, lỗ bên Luschka vào bể lớn.4: Sự lưu thông dịch não tủy “Nguồn: Textbook OpenStax Anatomy and Physiology, Biga, 2020”11 DNT di chuyển theo mạch đập giữa các cấu trúc thông qua chuyển động của não và tủy sống với mỗi kỳ tâm thu và kỳ hít vào. Điều này được kiểm nghiệm bằng cộng hưởng từ, siêu âm trong mổ, và thực nghiệm động vật. Ball và Dayan đề xuất với áp lực 4 x 10-5 mmHg được tạo bởi mạch đập trong sọ có thể tạo lực đẩy dịch trong ống trung tâm.

Một số nghiên cứu đã kiểm tra tốc độ và hướng chuyển động DNT trong các não thất và khoang dưới nhện. Albumin đánh dấu Technetium tiêm vào não thất bên của bệnh nhân hóa trị để điều trị bệnh bạch cầu đã có mặt sau 60 phút trong bể thắt lưng, mặc dù nó có thể mất 5 giờ để có trong xoang dọc trên. 10 Trong ống sống, DNT bắt đầu một chuyển động ra trước và xuống dưới trong kỳ tâm thu, tiếp theo là dòng chảy DNT hướng lên và sau đó quay trở lại sọ trong kỳ tâm trương. Dòng chảy DNT thường ảnh hưởng bởi chức năng hô hấp.

Trong lúc họ hay trong phản xạ Valsava, DNT di chuyển từ đầu xuống lưng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ