Chương 1. TỐNG QUAN VÈ NGHIÊN cứu 1. TÓNG QUAN VỀ CÂY QUẾ 1. Giới thiệu cây quế Cây Que thuộc họ Long não (Lauraceae) (Ravindran et al., 2004>, thường được trồng từ hạt hoặc sử dụng phưoug pháp giâm cành, là một cây gồ nhỏ thường xanh cao 10 - 15m còn có tên gọi khác là Cinnamomum verum J.
Cinnamomum zeylanicum Blume), nguồn gốc từ Sri Lanka và miền Nam Ấn Độ (Seidemann 2005). Có 4 loài quế chính đó là quế Tích lan (5/7 Lanka), quế Việt Nam (C.loureirii), quế Indonesia (C. burmanni) và quê Trung Ọuôc (Cừmamonmum aromanum) (Bandara et al. Que được biết đến từ xa xưa, được đánh giá rất cao vì quế được coi như một món quà dành cho các vị vua và những người có chức vụ cao ở các quốc gia cố đại (Seidemann, 2005).
Khoảng 2000 năm trước tại Việt Nam, cây Quế được tìm thấy ở những nơi hoang dã và được trồng ở Đông Nam á, miền Nam Trung Quốc (tỉnh Kwangxi và Kwangtong), Myanmar, Lào và Việt Nam. Thời gian sau được trồng thêm ở Indonesia, Sri Lanka, Nam Mỳ và Hawaii, ớ Việt Nam gặp nhiều ở miền Bắc, nhiều nhất ở các tỉnh Quảng Ninh, Yên bái, Tuyên Quang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngài (Dao et al. Riêng ở tỉnh Quảng Ngãi, quế được trồng rộng rãi ở các huyện miền núi Trà Bong, Tây Trà, Sơn Hà, Sơn Tây có tống diện tích đất trồng là 3.000 ha và Trà Bong chiếm khoảng 1.000 ha (Duong et al. Cây quế (dongyphuvan.
Đặc điểm hình thái Quế là cây gồ thường xanh (Ravindran et al., 2004), có kích thước trung bình cao khoảng 18-20 m, đường kính 40-60 cm, thân cây thẳng, hình trụ, vỏ màu nâu xám dày 13-15 mm. Cành có kích thước màu nâu sầm, lá mọc xen kẽ hoặc đoi xứng nhau, cuống lá dài 1,5-2,5 cm. Hoa màu trắng, quả có hình elip dài khoảng 10,7 mm có màu hồng tím khi trưởng thành. Quế là cây ưa bóng mát và ấm ướt, cây phát trien tốt ở vùng đất chua (độ pH: 4,5-5,5), có bộ rề khỏe cắm sâu vào đất (Hình 1.1) (Dao et al.
Thành phần hóa học Trồng quế chủ yếu thu hoạch từ vỏ, lá cây nhưng vỏ cây là chủ yếu. vỏ cây thường được thu hoạch sau 10 năm, thu hoạch lá từ 5 - 7 năm tuổi thì sẽ thu được lượng tinh dầu cao nhất. Chất lượng tinh dầu phụ thuộc vào thời tiết, vào mùa hè và mùa thu thì lá sẽ thu được lượng tinh dầu tốt nhất. Thành phần dinh dường của quế (Bảng 1.1) (Tainter và Grenis, 1993), ngoài dinh dưỡng ra còn có các thành phần hóa học như cinnamaldehyde, gum, tanin, mannitol, coumarin và tinh dầu.
vỏ có vị ngọt ngào là do sự hiện diện của cinnamaldehyde (Peter et al. Những chất này thay đổi đáng kế theo độ tuổi, vị trí, khí hậu, thời gian thu hoạch và bảo quản (Parthasarathy et al. Vỏ cây quế (shoptinhdauque. Lá và hoa cây quế chi (vnbacsi.
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng trên 100g quế khô (Tainter and Grenis 1993) Thành phần Bộ nông nghiệp Hoa Kì Hiệp Hội du lịch Hoa Kì (ƯSDA) (ASTA) Nước (g) 9,52 10 Năng lượng (Kcal) 261 355 Protein (g) 3,89 4,5 Chất béo (g) 3,18 2,2 Carbohyrate (g) 79,85 79,8 Hàm lượng tro (g) 3,55 3,5 Canxi (g) 1,23 1,6 Phosphorus(g) 61 50 Sodium (mg) 26 10 Kali (mg) 500 400 Sất (mg) 38,07 4,1 Thiamin (mg) 0,077 0,14 Riboflavin (mg) 0,14 0,21 Niasin (mg) 1,3 1,9 Ascorbic acid (mg) 28,46 40 Vitamin A 26 26 6 Thành phần hóa học chính của tinh dầu trong vỏ cây bao gồm cinnamaldehyde (80-90%), eugenol, eugenol acetate, cinnamyl acetate, cinnamyl alcohol, methyl eugenol, benzaldehyde, cinnamaldehyde, benzyl benzoate, linalool, monoterpene, hydrocarbon, caryophyllene, safrole và những chat khác như pinene, phyllandrene, cymene và cineol. Dau trong vỏ cây dạng lỏng có màu vàng nhạt đến vàng đậm và có mùi nồng, ấm, cay, vị ngọt, hăng nhưng không dang (Peter et al. Trong lá có thành phần eugenol là chủ yếu (65-92%) và hơn 47 hợp chất nhỏ khác (Senanayake et al. Người ta nói rằng thu hoạch lá quế vào mùa hè cho tinh dầu cao nhất (1,84%) và eugenol (83%) (Chakraborty el al.
Thành phần hóa học của võ và lá quế (Paranagama, 1999) Thành phần % Hợp chất trên vỏ % Hợp chất trên lá a-Pinene 3,34 0,73 p-Thujene 1,1 0,08 Camphene 0,63 0,29 p-Pinene 0,61 0,26 Sabinene 0,26 - a-Phellandrene 0,14 0,65 Myrcene 2,7 0,77 a-Terpinene 1,3 1,1 Linmonene 1,21 0,32 P-Phellandrene - - cis-Ocimene 0,14 - y-Terpinene 0,16 - trans-Ocimen 0,13 - p-Cymene 1,91 0,92 Terpinolene 0,21 0,61 7 Linalool 3,7 2,77 P-Terpineol - 0,06 Terpinen-4-ol 0.7 0,28 Fenchyl alcohol - - Isoborneol 0,08 - Sabinol - - 1,8-Cineole 4,6 0,51 Merthyl chavicol - - Cumenol* - - Cinnamyl alcohol 0,16 0,09 Phenyl Ethyl alcohol 0,47 - Coumarin 0,36 - Benzaldehyde 0,61 0,14 Hydrocinnamaldehyde 0,8 0,12 Cinnamaldehyde 46,7 2,81 Camphor - - Piperitone* - - Phenul erthyl acetate 0,18 - Phenyl prophyl acetare 0,38 - Methyl cinnamate 0,27 0,09 Cinnamyl acetate 8,78 - Benzyl benzoate 1,1 6,01 Eugenyl acetate 0,4 0,64 Linalyl acetate - - 8 Eugenol 4,15 76,74 Methyl isoeugenol - - Isoeugenol 0,08 0,07 Safrole 0,08 0,08 Methyl eugenol 0,15 - Methoxy eugenol - - a-Cubebene - - a-Ylangene 0,7 0,14 P-Caryophyllne 8 3,47 Sesquiterpene hydrocarbons - - Sesquiterpene hydrocarbon - - 1. ứng dụng Đối với cây quế, vỏ và lá được khai thác, sử dụng rộng rãi như một gia vị trên toàn thế giới (Seidemann 2005). vỏ quế được sử dụng rộng rãi và được coi là gia vị (Zaidi et al., 2015) cần thiết trong nấu ăn. Quế còn được sử dụng đe chế biến chocolate và nhiều món tráng miệng khác như bánh táo, bánh rán, kẹo cay, trà, rượu mùi.
Ngoài làm gia vị, tinh dầu cũng là thành phần quan trọng vì tinh dầu có một lượng lớn terpene và hợp chất thơm. Ọuế được tổng hợp và tích lũy trong vỏ cây, cành cây, lá và nhụy hoa. (Ravindran et al. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra tinh dầu trong lá quế rất hiệu quả trong việc tiêu diệt côn trùng như muồi vì có các đặc tính chống vi khuẩn, nấm, kháng virus, chống oxy hóa (Wu et al., 1994), chống khối u, làm giảm huyết áp, cholesterol và hạ lipid, hạ đường huyết và bảo vệ dạ dày.
Trong dân gian, quế được đánh giá rất hữu ít, được dùng đế điều trị về răng, chống hôi miệng, đầy hơi, tiêu chảy, bệnh tim. và sử dụng thường thì được cho là ngăn ngừa được cảm lạnh và hồ trợ về tiêu hóa. Các tuyên bố này chủ yếu dựa trên dân gian và ít được thử nghiệm lâm sàng (Bandara et al. Một nghiên cứu khác cho thấy Quế thường được sử dụng làm thuốc cổ truyền Trung Quốc để điều trị viêm phế quản mãn tính, liệt dương, khó thở, thấp khớp và chứng loạn thần kinh (Ravindran et al.
Tác giả Dao và 9 cộng sự, 2019 cho biết tinh dầu ở lá thường được sử dụng cho mục đích nước hoa và hương liệu, tương tự như tinh dầu trong vỏ cây, nhưng nó đặc biệt đe tạo ra mùi hương trong đồ uống cola (Dao et al. Nghiên cứu khoa học về vỏ và lá quế Nghiên cứu của tác giả Yang và cộng sự, 2012 cho thấy ngoài vỏ cây quế có hàm lượng họp chất chống oxy hóa thì còn có cả ở lá cây. Đối với họp chat phenolic thì ở vỏ cây nhiều hơn lá (9,534 g GAE /100g DW) so với (8,854 g GAE /100 g DW), còn lượng flavonoid thì lá cho nhiều hơn vỏ cây (3,348 g /100 g DW) so với (2,030 g /100 g DW) (Yang et al. Tổng hàm lượng flavonoid (TFC) và phenolic (TPC) trong các điều kiện trích ly khác nhau ở cây quế (Yang et al., 2012) Chiết xuất Ethanol SFE (wash) Năng xuất Vỏ cây 12,73% 0,22% Lá cây 23,02% 1,17% TPC Vỏ cây 9,534±0,26 l,796±0,01 (g GAE/100g DW) Lá cây 8,854±0,35 1,338+0,03 TFC Vỏ cây 2,03±0,l 1,373+0,09 (g GAE/100g DW) Lá cây 3,348±0,29 1,916+0,05 1.
Giói thiệu về flavonoid Flavonoid (thuật ngừ có nguồn gốc từ tiếng Latinh "Flavus", có nghía là màu vàng), là một sản phẩm thứ cấp cùa thực vật, có liên quan đến màu đỏ, xanh, sắc tố tím anthocyanin trong các mô thực vật (Winkel-Shirley, B. Là một nhóm lớn các chất tự nhiên có ở các thực vật như trái cây, rau củ, các loại hạt, thân cây, hoa, vỏ cây, trà, rượu và có trọng lượng phân tử thấp (kuhnau,1976). 10 Các hợp chất flavonoid bao gồm sáu phân nhóm chính được tìm thấy ở thực vật bậc cao: chaicones, flavon, flavonols, flavandiols, anthocyanins, và tannin cô đặc (hoặc proanthocyanidins); nhóm thứ bảy là các aurones. Ngoài vai trò sinh lý đối với thực vật thì còn là thành phần quan trọng trong chế độ ăn uống của con người mặc dù chưa được xem là một chất dinh dường (Winkel-Shirley, B.
Đen thời diem này, trong thực vật ăn được có hơn 4000 flavonoid được phân loại như flavonols, flavon, flavanols, flavanonol, flavanones và isoflavone được xác định thiêu thụ thường xuyên ở chế độ ăn uống của con người (Birt et al. Nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống trung bình của phương tây chứa đến khoảng lOOmg mỗi ngày (kuhnau, 1976). Các thực phẩm giàu flavonoid (Winkel-Shirley, B.2001) Hợp chất flavonoid Thực phẩm Epicatecin - Catechin - Epigallocatechin Trà xanh, trà đen Epicatechin gallate Rượu vang đỏ Flavanone - Naringin vỏ trái cây có múi Taxifolin Trái cây có múi Flavonol - Kaempferol Bông cài xanh. Củ cài, rau đắng, tỏi, nho, trà đen Quercetin Hành tây, rau diếp cá, bông cải xanh, việt quất, táo, quả mọng, ô liu, trà đỏ, rượu vang Myricetin Việt quốc, nho, rượu vang Flavone - Chrysin vỏ trái cây Apigenin Cần tây, rau mùi 11 Anthocyanidins - Malvidin Nho, rượu vang Cyanidin Cherry, dâu rừng, dâu, nho Apigenin trái cây có màu Phenyl propanoids - Ferulic acid Lúa mì, ngô, gạo, cà chua, bắp cải, măng tây Caffeic acid Nho, rượu vang, cà chua, rau den, bap cải, măng tây B-Courmaric acid Nho, rượu vang, cà chua, rau den, bắp cải, măng tây Chlorogenic acid Trái táo, đào, mận, việt quốc, cà chua 1.
Thành phần cấu tạo Flavonoid là các chat polyphenol dựa trên nhân flavan bao gồm 15 nguyên tử cacbon sắp xếp thành ba vòng (C6-C3-C6). Các vòng được kí hiệu A, B và c (Hình 1. Cấu trúc vòng flavonoid cơ bản (Vinson 2001) 1. Úng dụng Trong chế độ ăn uống cũng như sức khỏe trong cơ thể con người, Flavonoid được đánh giá rất cao về lợi ích (Panche et al.
Hiện tại có khoảng 600 flavonoid góp 12 phần tạo các sắc tố màu sắc của trái cây, thảo mộc, rau và cây thuốc (Dixon et al. Nghiên cứu của tác giả Griesbach và cộng sự, 2015 đã cho thấy flavonoid cũng có ảnh hưởng đen hương thơm của hoa và trái cây đe nhằm thu hút côn trùng trong quá trình thụ phấn và có ảnh hưởng đến sự phát tán của hạt giống và sự nảy mầm của cây con (Griesbach et al. Flavonoid còn được xem có tác dụng tích cực đối với sức khỏe con người, xem nó như một phương pháp điều trị bệnh bằng chất hóa học (Dixon et al.