Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG VĂN HÓA HÀ NỘI, HÀ TÂY (CŨ) VÀ NGUỒN GỐC HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH 1. Vùng văn hóa Hà Nội và Hà Tây (cũ) 1. Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Nội Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi về mọi mặt, nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, nằm trên trục của đồng bằng hình tam giác do sông Hồng và các phụ lưu của nó tạo nên, với chóp đỉnh Việt Trì và cạnh đáy là đường ven bờ Vịnh Bắc Bộ, ngay ở phần chia ba đầu tiên của trục này.
Tam giác châu thổ của sông Hồng ấy, phía bắc là dải Tam Đảo - nơi hội tụ của các dãy núi và thung lũng; ở phía nam là dải Ba Vì, núi Sơn Tinh. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km2 nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn. Ở vị trí này, Hà Nội là nơi non sông hội tụ, cũng là nơi các đầu mối giao thông thủy bộ hội tụ và lan tỏa xuống biển, lên ngàn, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng trong khu vực đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Hà Nội được biết đến với đặc trưng “thành phố trong sông”.
Sông Hồng là con sông chính của thành phố. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam. Trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ. Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu.
Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết của những con sông cổ: Hồ Tây, Hồ Gươm, hồ Trúc Bạch, hồ Thiền 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quang, hồ Thủ Lệ… Sông, hồ không những là nguồn nước dùng trong sinh hoạt mà còn là hệ thống thủy lợi và giao thông truyền thống phát triển cho ngành nông nghiệp trồng lúa nước. Sông, hồ cũng là những điều kiện thuận lợi cho việc quy tụ xóm làng, phường phố. Có thể nói các yếu tố sông - hồ - núi đã tạo nên bức tranh đặc sắc cho thiên nhiên Hà Nội. Về mặt khí hậu, khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng mưa nhiều và mùa đông lạnh ít mưa.
Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh năm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao, và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự khác biệt và thay đổi rõ rệt của hai mùa nóng và lạnh. Hà Nội từ xưa đã là một điểm dân cư đông đúc. Các cuộc khai quật khảo cổ tại nội thành: ở Quần Ngựa (quận Ba Đình) và ven hồ Bảy Mẫu (quận Hai Bà Trưng) đã đào được những lưỡi rìu đá mài; ở ven Hồ Tây và làng Ngọc Hà (quận Ba Đình) có mũi giáo đồng và trống đồng.
Các di vật đó chừng vài ba ngàn tuổi. Ở ngoại thành dấu vết cư dân cổ dày hơn. Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực Hà Nội cách đây hai vạn năm giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Các hiện vật khảo cổ giai đoạn tiếp theo, từ đầu thời đại đồ đồng tới đầu thời đại đồ sắt minh chứng cho sự hiện diện của cư dân Hà Nội ở cả bốn thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn.
Thuở đó, làng xóm dựng trên những đồi đất ven các sông và các đầm hồ lớn nhỏ. Cư dân làm nông nghiệp, trồng lúa trồng rau, đánh cá và chài lưới, chăn nuôi và săn bắn. Về thủ công có mài đá, đẽo đá, nung gốm, đúc đồng, rìu sắt… Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ II trước Công nguyên đã kết thúc giai đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một nghìn năm bị các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, nước Âu Lạc chia thành ba quận Giao 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam; Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ.
Theo sách Thủy kinh chú, Hà Nội bước vào chính sử từ thế kỷ thứ IV với tư cách là lỵ sở của huyện Tống Bình. Tới giữa thế kỷ thứ VI, Lý Nam Đế đã dựng một tòa thành trên gỗ ở bờ sông Tô, là tòa thành đầu tiên dựng ở đất nội thành. Từ đầu thế kỷ thứ VII, dưới thời nhà Đường, nơi đây trở thành lỵ sở của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường là Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi thành tên Đại La - thủ phủ của Tĩnh Hải quân.
Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thế kỷ thứ X, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt. Sau khi lên ngôi năm 1009 tại Hoa Lư, năm 1010 Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Đại La.
Ông đã nhìn thấy những điều kiện thuận lợi nhất về địa lý, kinh tế, chính trị của đất Đại La, điều này đã được ghi lại trong Chiếu dời đô: “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất: được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng phẳng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi.
Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất trời; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời…” [34]. Ngay trong thế kỷ X, nhiều công trình tôn giáo nhanh chóng được xây dựng: Trường Quốc Tử Giám xây dựng từ năm 1070, là nơi mở các kỳ thi tuyển chọn nhân tài, đào tạo đội ngũ trí thức cho cả nước. Đồng thời đây cũng là một trung tâm Phật giáo với nhiều tên tuổi cao tăng nổi tiếng như Vạn Hạnh, Minh Không, Thông Biện… Thăng Long không những tập trung những cung điện của triều đình mà còn có nhiều chùa tháp nổi tiếng, tiêu biểu như chùa Diên Hựu, chùa Sùng Khánh Báo Thiên.
Trong bốn công trình nghệ thuật được coi là “An Nam tứ đại khí” mang niên đại Lý - Trần thì có hai công trình thời Lý trên 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất Thăng Long là chuông Quy Điền (năm 1080 tại chùa Diên Hựu) và tháp Báo Thiên (1057 tại tháp Báo Thiên). Chỉ sau một thế kỷ, Thăng Long trở thành trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của cả nước. Tới thời Trần, trong cuộc chiến chống quân Nguyên, Thăng Long ba lần bị chiếm giữ nhưng đều kết thúc trong chiến thắng của Đại Việt. Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lên ngôi, chuyển kinh đô về Thanh Hóa, Thăng Long được đổi thành Đông Đô.
Năm 1406, nhà Minh xâm lược Đại Ngu, Đông Đô bị chiếm đóng, đổi tên thành Đông Quan. Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Quan cũng lấy lại vị trí kinh thành. Năm 1430 kinh thành đổi tên thành Đông Kinh. Trong giai đoạn tranh giành quyền lực giữa nhà Lê, nhà Mạc và chúa Trịnh, Thăng Long vẫn giữ vị trí kinh đô của mình.
Như vậy, trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển vào Huế và dưới thời vua Minh Mệnh; năm 1831, Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của liên bang Đông Dương. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay.
Lịch sử văn hóa Thăng Long - Hà Nội là một dòng chảy liên tục. Thăng Long - Hà Nội không chỉ là một đô thành mà còn là một vùng văn hóa. Từ khi Cổ Loa trở thành thủ đô của nước Âu Lạc thì vùng văn hóa Thăng Long - Hà Nội trở thành trung tâm văn hóa của đất nước. Nếu nhà nước Văn Lang được đặc trưng bởi văn hóa Đông Sơn thì văn hóa Thăng Long - Hà Nội khi đó cũng nằm trong khuôn khổ của văn hóa Đông Sơn và trước nữa là văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun.
Khi An Dương Vương hợp nhất Văn Lang và Lạc Việt thành Âu - Lạc và đóng đô ở Cổ Loa thì Cổ Loa và vùng đất Thăng Long - Hà Nội thực sự trở thành trung tâm văn hóa của đất nước. Nền 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa Đông Sơn bản địa lúc này đã được bổ sung thêm những giá trị lịch sử - văn hóa của cư dân Lạc Việt. Văn hóa Thăng Long - Hà Nội trải qua một quá trình phát triển không ngừng và có sự thống nhất giữa bảo lưu và tiếp nhận các giá trị văn hóa dân tộc và văn hóa ngoại lai. Sau Cổ Loa, Luy Lâu là trung tâm văn hóa đất nước.
Xét từ bình diện địa - văn hóa, Luy Lâu thuộc vùng văn hóa Thăng Long - Hà Nội và những nền văn hóa ngoại lai. Chính trong thời kỳ này, văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã đạt một bước tiến mới khi tiếp nhận các hệ tư tưởng Nho - Phật - Lão. Suốt dòng chảy lịch sử của các triều đại phong kiến, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cho tới thời kỳ hoàn toàn độc lập của đất nước, Thăng Long - Hà Nội luôn là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước. Trên nền tảng của văn hóa Đông Sơn với nghề trồng lúa nước phát triển cao, kỹ nghệ đúc đồng siêu việt, nghề làm gốm cùng các nghề thủ công tinh xảo kết hợp với các thành tựu văn hóa ngoại lai, Thăng Long - Hà Nội đã là trung tâm của nền văn hóa Đại Việt rực rỡ.