Đặt vấn đề Tía tô (Perilla frutescens) là một loài thực vật quan trọng về kinh tế và văn hóa ở Đông Á. Nó đƣợc trồng chủ yếu ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam. Tía tô frutescens var .crispa (Lamiaceae) - đƣợc gọi là 'Jureum-soyeop' hoặc 'Cha-jo-ki' trong tiếng Hàn, 'ZI SU YE' trong tiếng Trung Quốc, và 'Shiso' ở Nhật Bản - đã đƣợc sử dụng nhƣ một loại dƣợc thảo. Lá của tía tô đã đƣợc sử dụng về mặt y học dân gian để bảo vệ đƣờng tiêu hóa khỏi các bệnh viêm nhiễm và ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm từ biển .Monoterpen trong tinh dầu của P.
crispa là các thành phần chính, với các tác dụng sinh học đa dạng bao gồm kháng nấm, bảo vệ thần kinh, chất chống ung thƣ, ức chế hình thành mạch, chống viêm và các hoạt động chống oxy hóa. Ngoài ra, các loại anthocyanin, phenol, polysaccharid, và flavonoid cũng đã đƣợc phân lập từ cây này. Một số hợp chất này đƣợc phát hiện có các hoạt tính sinh học đa dạng nhƣ chất chống oxy hóa, chất bổ trợ miễn dịch, chống viêm, và tác dụng chống oxy hóa (Nam et al. Việc lai tạo cây trồng giữa các giống cây trồng đã nâng cao tính đa dạng di truyền của cây tía tô nói chung, nhƣng có nghĩa là các loài phụ đa dạng về chức năng khó xác định và phân biệt hơn.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phát triển các dấu hiệu DNA dựa trên gen để phân biệt giữa các giống tía tô của miền Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam tía tô là một loại gia vị, một loại rau sống cũng nhƣ là một loại thảo dƣợc thân thuộc, gần gũi với ngƣời dân. Tía tô đƣợc trồng phổ biến ở nƣớc ta và chúng cũng đa dạng về chủng loại, là nguồn thu nhập cũng nhƣ và vị thuốc dân gian quen thuộc đối với ngƣời dân nói chung và ngƣời miền Bắc nói riêng. Vì thế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Khảo sát một số dòng/ giống tía tô ở miền Bắc Việt Nam”.
Mục tiêu của đề tài Đánh giá sự đa dạng dòng/ giống tía tô ở miền Bắc Việt Nam. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đa dạng hình thái giữa các giống tía tô. - Đánh giá đa dạng di truyền các giống tía tô miền Bắc. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu về tía tô 2. Nguồn gốc Tía tô (danh pháp hai phần: Perilla frutescens var. crispa, đồng nghĩa: Perilla macrostachya, Perilla ocymoides, Perilla urticifolia, Ocimum frutescens) là một trong số khoảng 8 loài cây tía tô thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae hay Labiatae) giống nhƣ húng. đƣợc ghi nhận lần đầu trong thƣ tịch cổ của Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 - thứ 6, có nguồn gốc từ vùng núi Ấn Độ và Trung Quốc, sau đó đƣợc trồng ở nhiều nơi trên Thế giới.
Các quốc gia trồng nhiều loại cây này là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Loài tía tô bản địa mọc trải rộng từ Ấn Độ sang Đông Á gồm Việt Nam. Dựa trên mục đích sử dụng, tía tô trồng đƣợc chia thành hai loại chính: Perilla frutescens var. frutescens có hạt lớn, đƣợc trồng để lấy dầu hạt, thƣờng đƣợc trồng và sử dụng phổ biến ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Perilla frutescens var. crispa đƣợc dùng để làm thuốc trong y học cổ truyền, cất tinh dầu hoặc làm rau gia vị đƣợc trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Ngoài ra còn có 3 loài hoang dại là Perilla citriodora, Perilla hirtella và Perilla setoyensis (Nitta et al. Giá trị dinh dƣỡng Trong các bộ phận cây tía tô có chứa tinh dầu (khoảng 0,5%) mà thành phần chủ yếu là perillaldehyd (4- isopropenyl, 1-cyclohexen 7-al), limonene, anilin và dihydrocumin.
Trong hạt tía tô có dầu béo gồm acid oleic, linoleic và linolenic; acid amin: arginin, histidin, leucin, lysin, valin. 3 Trong lá tía tô rất giàu chất xơ dinh dƣỡng (dietary fiber), giàu chất khoáng dinh dƣỡng (dietary minerals) nhƣ canxi (calcium), sắt (iron) , kali (potassium) và vitamin A, C và riboflavin. Lá tía tô giàu vitamin và chất khoáng : vitamin A, vitamin C, Ca, Fe và P. Lá tía tô đƣợc sử dụng làm rau gia vị hoặc dùng để ƣớp một số loại thực phẩm ở Hàn Quốc và Nhật Bản.
Chồi lá hoặc hoa nở khoảng 30% đƣợc sử dụng làm gia vị khi ăn cá sống. Trong tinh dầu lá tía tô, các hợp chất nhƣ perilla aldehyde, limonene, caryophyllene, farnesene,. có tác dụng kích thích dây thần kinh khứu giác, tăng nhu động ruột, thúc đẩy tiết enzyme tiêu hóa, tăng cảm giác ngon miệng. Tinh dầu lá tía tô còn có tác dụng khử mùi tanh hải sản rất hiệu quả, giải độc cua cá (Bumblauskienė et al.
Từ những lợi ích trên, một phần tinh dầu lá tía tô đƣợc sử dụng làm hƣơng liệu, phụ gia thực phẩm khá phổ biến ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Ấn Độ… Ngoài sử dụng làm chất phụ gia, tinh dầu tía tô còn đƣợc sử dụng bảo quản thịt, cá và các loại thực phẩm khác. Tinh dầu tía tô có ƣu điểm là chỉ cần sử dụng một lƣợng nhỏ, hoạt tính cao, an toàn cho sức khỏe và có thể áp dụng cho các loại thực phẩm ở mọi giá trị pH. Đặc biệt hơn, nếu nhƣ các chất bảo quản thông thƣờng có thể gây ảnh hƣởng xấu tới mùi vị của thực phẩm thì loại tinh dầu này vừa là chất bảo quản, vừa cải thiện hƣơng vị cho thực phẩm (Yu et al. Trong thành phần tinh dầu lá tía tô có chứa một dẫn xuất của perilla aldehyde có tên là perillartine.
Chất này có vị ngọt gấp 2000 lần đƣờng mía và có calo rất thấp. Nó đƣợc sử dụng làm chất tạo ngọt thay thế tại Nhật Bản và Mỹ. Đặc biệt, đây còn là phụ gia quan trọng trong ngành sản xuất thuốc lá để giảm mùi hăng cay, làm cho sản phẩm có hƣơng vị hài hòa hơn (Yu et al. 1997; Đỗ Huy Bích et al.
Tại Mỹ, tinh dầu tía tô nằm trong danh mục các phụ gia thực phẩm đƣợc phép sử dụng. Nó đã đƣợc sử dụng để bổ sung vào các loại nƣớc sốt, bánh kẹo, chewing gum, tạo hƣơng cho các sản phẩm sarsaparilla - một loại đồ uống rất phổ biến tại Mỹ (Yu et al. 4 Các giống tía tô thƣờng đƣợc phân loại thành bảy loại hóa trị dựa trên số lƣợng khác nhau của chúng về các thành phần chính của tinh dầu, perillaldehyde (PA), perilla ketone (PK), elsholtzia ketone (EK), citral (C), perillene (PL) , piperitenone (PT) và phenylpropanoid (PP). Ở Hàn Quốc, chi Tía tô đƣợc phân thành hai loại hóa trị chính, PA (soyeop) và PK (Dlggae), theo thành phần chính của dầu dễ bay hơi của chúng.
Cây PA chứa chủ yếu là perillaldehyde (19,8%) và limonene (57,7%), trong khi dầu của cây PK chủ yếu là xeton tía tô (89,8%). Lá và hạt của cây PK theo truyền thống đƣợc sử dụng làm thực phẩm, trong khi lá và cành của cây PA đƣợc sử dụng làm thuốc thảo dƣợc.(Kim et al., 2017) Hạt tía tô là một nguồn cung cấp axit béo không bão hòa đa (PUFAs). Hạt của tía tô có hình cầu nhỏ, trọng lƣợng khoảng 4 g / 1000, chứa khoảng 35–45% dầu. Tuy nhiên, lá cây là một nguồn cung cấp dầu rất nghèo nàn, vì chúng chỉ chứa 0,2%.
Ngoài ra, chỉ có dầu hạt chứa axit béo omega 3 axit alpha-linolenic (ALA). So với các loại dầu thực vật khác, dầu hạt tía tô luôn chứa một trong những tỷ lệ axit béo omega-3 (ALA) cao nhất, ở mức 54–64%. Thành phần omega-6 (axit linoleic) thƣờng chiếm khoảng 14% và omega-9 (axit oleic) cũng có trong dầu tía tô. Các axit béo không bão hòa đa này có lợi nhất cho sức khỏe con ngƣời và phòng ngừa các bệnh khác nhau nhƣ rối loạn tim mạch, ung thƣ, viêm, viêm khớp dạng thấp (Asif, 2011).
Đặc điểm cây tía tô 2. Đặc điểm hình thái Cây thảo, cao 0,5-1m. Thân cỏ mọc đứng, cao 40-100 cm, phân nhánh nhiều, toàn cây có mùi thơm và có nhiều lông. Thân và cành vuông, lõm ở cạnh, màu xanh hay tím, có nhiều lông.
Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập, phiến mỏng, hình trứng rộng, kích thƣớc 7-13×5-9 cm, đỉnh lá nhọn, gốc tròn. Bìa lá có răng cƣa nhọn, hai mặt lá có màu xanh hoặc tím nhạt; những lá ở ngọn thƣờng tím mặt trên, khi lá già mặt trên trở thành màu xanh; gân giữa màu tím, gân bên 6-8 đôi. Cuống lá dạng sợi, dài 2-5 cm, đƣờng kính 1,5-2 mm, màu tím xanh. Cụm hoa dạng chùm 5 ở ngọn cành hoặc nách lá, dài 5-20 cm, mỗi đốt mang 2 hoa mọc đối hình chữ thập.
Hoa không đều, lƣỡng tính, mẫu 5. Lá bắc hình trứng rộng, dài hơn hoa, đầu nhọn, kích thƣớc 2,5-3×3 cm, màu xanh, có lông dài, tồn tại đến khi hoa thành quả. Cuống hoa dài 1-3 mm. Đài hình chuông, màu xanh cỡ 3-4×2-3 mm, có 10 gân dọc, có vòng lông trắng dài ở họng, 2 môi: môi trên 3 thùy ngắn; môi dƣới 2 thùy nhọn xẻ sâu và dài hơn môi trên, đài tồn tại và phát triển đến khi quả đã khô và rụng, 5-8×3-4 mm.
Tràng hợp thành ống màu trắng, dài 3-4 mm ở phía dƣới, có vòng lông ở họng, 2 môi 2/3: môi trên chia 2 thùy cạn; môi dƣới có thùy giữa lớn hơn 2 thùy bên. Nhị 4, đính ở 1/3 phía trên ống tràng, xen kẽ với cánh hoa, không nhô hẳn ra ngoài, 2 nhị dƣới dài hơn 2 nhị trên. Chỉ nhị dạng sợi, bao phấn màu tím, 2 ô song song, nứt dọc, hƣớng trong, đính đáy. Hạt phấn gần hình cầu, nhiều rãnh ngoằn ngoèo, đƣờng kính 40-45 µm.
Lá noãn 2, bầu 2 ô sau có vách giả chia thành 4 ô, mỗi ô 1 noãn, đính đáy. Bầu noãn đƣờng kính 2 mm, hình vuông, góc tròn. Ở một số bầu noãn, có khi chỉ 3 hoặc 2 noãn phát triển thành quả, các noãn còn lại không phát triển. Vòi nhụy dạng sợi dài 2-2,5 mm, nửa dƣới màu trắng, nửa trên màu tím nhạt, 2 đầu nhụy thò ra ngoài.
Quả bế tƣ hình trứng hoặc gần hình cầu, có gốc quả hơi nhọn, gồm 4 hạch nhỏ, mỗi hạch chứa 1 hạt. Khi chƣa chín màu trắng ngà, đƣờng kính mỗi quả khoảng 1-1,5 mm, cả “tứ bế quả” khoảng 3 mm. Lúc chín, quả khô lại và có màu nâu đen, có vân mạng lƣới, dễ dàng rơi ra khỏi đài từng quả riêng rẽ. Vỏ quả mỏng, giòn, dễ vỡ.
Hạt có mùi thơm nhẹ khi vỡ, vị cay. Ngoài ra, lá tía tô của Triều Tiên hay Nhật Bản có hai mặt đều xanh, có giá trị cao để xuất, nhập khẩu. Loại này đƣợc gọi là perilla frutescens. Đặc điểm giải phẫu Thân: Vi phẫu vuông, 4 cạnh lõm sâu, dài ngắn không đều nhau.