Luận văn thạc sĩ khảo sát các tham số dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao mới và lao tái trị tại bệnh viện phổi hà nội

Luận văn thạc sĩ y tế nghiên cứu khảo sát các tham số dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao mới và lao tái trị tại bệnh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

53
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương về bệnh lao

1.2. Nguyên nhân gây bệnh

1.3. Sự kháng thuốc của vi khuẩn lao

1.4. Tổng quan về isoniazid

1.4.1. Cấu trúc hóa học

1.4.2. Dược lực học

1.4.3. Dược động học của isoniazid

1.4.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến dược động học của isoniazid

1.5. Mô hình và một số nghiên cứu về dược động học của isoniazid

1.6. Phác đồ điều trị lao mới và lao tái trị có isoniazid

1.6.1. Đặc điểm lao mới và lao tái trị

1.6.2. Phác đồ điều trị lao mới và lao tái trị

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân

2.6. Xác định các thông số dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao mới và lao tái trị

2.7. Phương pháp nghiên cứu

2.8. Thu thập thông tin

2.9. Lấy mẫu định lượng nồng độ isoniazid huyết thanh

2.10. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Thông tin chung về bệnh nhân

3.2. Liều lượng thuốc

3.3. Nồng độ thuốc của bệnh nhân tại 2 thời điểm lấy mẫu máu khác nhau và các thông số dược động học

3.4. So sánh giá trị các thông số AUC, Cmax, Vd giữa 2 nhóm bệnh nhân lao mới và lao tái trị

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát dược động học của isoniazid tại Hà Nội

Khảo sát dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao tại Hà Nội là một nghiên cứu quan trọng nhằm hiểu rõ hơn về tác động của thuốc này đối với bệnh nhân. Isoniazid là một trong những thuốc chính trong điều trị bệnh lao, và việc nắm rõ các thông số dược động học của nó sẽ giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về nồng độ thuốc trong huyết tương mà còn giúp đánh giá hiệu quả điều trị và nguy cơ kháng thuốc.

1.1. Đặc điểm bệnh nhân lao tại Hà Nội

Nghiên cứu đã khảo sát các đặc điểm của bệnh nhân lao tại Bệnh viện Phổi Hà Nội, bao gồm độ tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe. Việc hiểu rõ đặc điểm này giúp xác định nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao và cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.

1.2. Tầm quan trọng của dược động học trong điều trị lao

Dược động học của isoniazid ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị. Nghiên cứu này sẽ làm rõ các thông số như nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax), diện tích dưới đường cong (AUC) và thời gian tác dụng của thuốc, từ đó giúp cải thiện phác đồ điều trị cho bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị bệnh lao tại Hà Nội

Bệnh lao vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Hà Nội. Sự kháng thuốc ngày càng gia tăng, đặc biệt là với isoniazid, đã tạo ra nhiều thách thức trong việc điều trị. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến dược động học của thuốc là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị.

2.1. Tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn lao

Kháng thuốc là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong điều trị bệnh lao. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều bệnh nhân có thể đã tiếp xúc với các loại thuốc kháng lao trước đó, dẫn đến tình trạng kháng thuốc. Việc theo dõi và đánh giá tình trạng kháng thuốc là rất quan trọng.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị

Nhiều yếu tố như liều lượng thuốc, thời gian điều trị và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của isoniazid. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố này để đưa ra các khuyến nghị cho phác đồ điều trị.

III. Phương pháp nghiên cứu dược động học của isoniazid

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phổi Hà Nội với sự tham gia của nhiều bệnh nhân lao. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu thập mẫu máu để xác định nồng độ isoniazid trong huyết thanh và phân tích các thông số dược động học. Các kết quả thu được sẽ giúp đánh giá hiệu quả điều trị và nguy cơ kháng thuốc.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp quan sát, với các bệnh nhân lao mới và tái trị. Tiêu chí lựa chọn bệnh nhân được xác định rõ ràng để đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Mẫu máu được thu thập tại các thời điểm khác nhau để xác định nồng độ isoniazid. Dữ liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê hiện đại để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

IV. Kết quả khảo sát dược động học của isoniazid

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ isoniazid trong huyết thanh của bệnh nhân có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm bệnh nhân. Các thông số dược động học như Cmax và AUC cũng được phân tích để đánh giá hiệu quả điều trị. Những phát hiện này sẽ cung cấp thông tin quý giá cho việc tối ưu hóa phác đồ điều trị bệnh lao.

4.1. Giá trị các thông số dược động học

Các thông số như Cmax, AUC và thời gian tác dụng của isoniazid được xác định và so sánh giữa các nhóm bệnh nhân. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

4.2. So sánh giữa bệnh nhân lao mới và tái trị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân lao tái trị có nồng độ isoniazid thấp hơn so với bệnh nhân lao mới. Điều này có thể liên quan đến tình trạng kháng thuốc và cần được xem xét trong phác đồ điều trị.

V. Kết luận và khuyến nghị cho tương lai

Nghiên cứu về dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao tại Hà Nội đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng. Kết quả cho thấy cần có sự điều chỉnh trong phác đồ điều trị để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc. Các khuyến nghị cho việc theo dõi và điều chỉnh liều lượng thuốc cũng được đưa ra.

5.1. Tầm quan trọng của việc theo dõi dược động học

Việc theo dõi các thông số dược động học của isoniazid là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả điều trị. Các bác sĩ cần thường xuyên đánh giá nồng độ thuốc trong huyết thanh để điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời.

5.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá sâu hơn về dược động học của isoniazid và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Các nghiên cứu này sẽ giúp cải thiện phác đồ điều trị và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc trong tương lai.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ khảo sát các tham số dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao mới và lao tái trị tại bệnh viện phổi hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lao đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước và vẫn là một vấn đề chính trong sức khoẻ toàn cầu. Nó là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới (đứng thứ 9) và trong 5 năm qua, nó đã trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do bệnh truyền nhiễm trên toàn thế giới, xếp hạng trên HIV/AIDS [48]. Hiện nay, Chương trình chống lao quốc gia áp dụng các công thức hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp. Phác đồ điều trị hiệu quả là sử dụng bốn thuốc tiêu chuẩn trong 06 tháng cho điều trị ban đầu của bệnh lao phổi nhạy cảm [47,12].Tác dụng diệt khuẩn của thuốc chống lao phụ thuộc vào nồng độ đạt được của thuốc trong huyết tương và trong tổn thương.

Để tiêu diệt được vi khuẩn lao trong tổn thương, nồng độ thuốc trong huyết tương phải đạt được nồng độ điều trị. Mỗi thuốc chống lao có nồng độ điều trị khác nhau. Khi bệnh nhân sử dụng thuốc chống lao, nếu nồng độ thuốc trong huyết tương thấp, có thể dẫn tới khả năng đáp ứng điều trị thấp, tăng nguy cơ kháng thuốc, làm tăng khả năng thất bại trong điều trị và sớm tái phát [6]. Bệnh lao hiện đang được điều trị bằng liệu pháp phối hợp.

Tuy nhiên, nghiên cứu và tối ưu hóa phác đồ đơn trị liệu sẽ cho phép nâng hiệu quả kết hợp trong phác đồ điều trị bệnh lao. Hơn nữa, trong 2 – 5 ngày đầu điều trị bệnh lao, Isoniazid (INH) cho thấy tác dụng diệt khuẩn sớm rõ ràng trong phác đồ [24]. Isoniazid là một trong những thuốc được sử dụng rộng rãi như một liệu pháp đầu tay trong điều trị lao. Tuy nhiên hiện nay trên quần thể bệnh nhân lao Việt Nam các nghiên cứu đánh giá dược động học, dược lực học, dược động học/dược lực học, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, cũng như kiểm soát tình trạng kháng INH còn hạn chế.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát các thông số dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao mới và lao tái trị tại bệnh viện Phổi Hà Nội” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá đặc điểm bệnh nhân lao tại bệnh viện Phổi Hà Nội. Xác định các thông số dược động học của isoniazid trên bệnh nhân lao tại bệnh viện Phổi Hà Nội. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.

Đại cƣơng về bệnh lao 1. Nguyên nhân gây bệnh - Phân loại vi khuẩn lao Dựa vào khả năng gây bệnh cho người và động vật, vi khuẩn lao có thể phân loại như sau [9]:  Mycobacterium tuberculosis Hominis: là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh lao ở con người.  Mycobacterium Bovis: vi khuẩn lao bò, gây bệnh cho những động vật có sừng như bò, thường gây lao ruột khi uống sữa bò không vô khuẩn.  Mycobacterium avium: vi khuẩn lao chim, gây bệnh ở chim, có thể gây bệnh ở người, thường gây tổn thương ở hạch.

 Mycobacterium microti: vi khuẩn gây bệnh ở chuột. - Một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao  Vi khuẩn lao có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài: Ở điều kiện tự nhiên vi khuẩn có thể tồn tại 3 – 4 tháng. Trong phòng thí nghiệm người ta có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm. Trong đờm của bệnh nhân lao ở phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được độc lực.

Dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn bị chết sau 1,5 giờ. Ở 42 0C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 80 0C; với cồn 900 vi khuẩn tồn tại được 3 phút, trong acid phenic 5 % vi khuẩn chỉ sống được 1 phút [9].  Vi khuẩn lao là loại vi khuẩn hiếu khí: Khi phát triển vi khuẩn cần đủ oxy, vì vậy giải thích tại sao lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất trong các hang lao có phế quản thông [9].  Vi khuẩn lao sinh sản chậm: Trong điều kiện bình thường, trung bình 20 – 24 giờ/1 lần, nhưng có khi hàng tháng, thậm chí “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể tái phát triển lại [9].

 Con đường lây truyền: 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vi khuẩn lao lây truyền qua đường hô hấp do hít phải các giọt nhỏ bắn ra khi ho, hắt hơi hoặc nói chuyện có chứa vi khuẩn lao được sinh ra trong quá trình ho, khạc, hắt hơi hoặc nói chuyện với người bị lao phổi trong giai đoạn tiến triển [3,25]. - Đặc điểm của các quần thể vi khuẩn lao Chuyển hóa của vi khuẩn lao tùy theo loại tổn thương: hang, bã đậu,…độ pH và phản ứng oxy tại vùng tổn thương; D.Dickinson tại Hội nghị chống lao quốc tế lần thứ 24 tại Brucxen (Bỉ) đã chia quần thể vi khuẩn lao trong các tổn thương thành 4 nhóm [9]:  Nhóm A: gồm những vi khuẩn khu trú ở vách hang lao có đủ oxy, độ pH kiềm, thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, là nhóm vi khuẩn phát triển mạnh, số lượng lớn, nằm ngoài tế bào. Nhóm này dễ bị các thuốc chống lao tiêu diệt.  Nhóm B: gồm những vi khuẩn khu trú ở vách hang lao nhưng sâu hơn, độ pH kiềm, phân áp oxy thấp nên phát triển chậm, chỉ chuyển hóa từng đợt ngắn khoảng 1 giờ.

Nhóm này chỉ có rifampicin (RMP) và INH là có tác dụng.  Nhóm C: gồm những vi khuẩn đã bị thực bào nằm trong đại thực bào, vi khuẩn phát triển rất chậm vì độ pH toan. Chỉ có pyrazinamide (PZA) là phát huy tác dụng tốt, thứ đến là rifampicin, còn INH ít tác dụng và streptomycin (S) thì không có tác dụng.  Nhóm D: gồm những vi khuẩn nằm trong đại thực bào, hoàn toàn không chuyển hóa, không phát triển gọi là những vi khuẩn lao “nằm ngủ”, các thuốc chống lao không có tác dụng.

Số lượng vi khuẩn của nhóm này ít, có thể bị diệt bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể. Các thuốc chống lao có khả năng diệt nhanh vi khuẩn lao thuộc nhóm A, nhưng rất khó với nhóm B và nhóm C. Vì vậy, phải điều trị lâu dài nhằm tiêu diệt triệt để nhóm B và nhóm C tránh hiện tượng tái phát bệnh. Sự kháng thuốc của vi khuẩn lao Trong những năm gần đây, sự kháng thuốc của vi khuẩn lao đã trở thành mối đe dọa ngày càng tăng đối với sức khoẻ cộng đồng toàn cầu, là một thách thức quan trọng trong việc kiểm soát bệnh lao toàn cầu.

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ba con đƣờng dẫn đến lao kháng thuốc Tính kháng thuốc của vi khuẩn lao được chia làm 3 loại [6,8,11,46]:  Kháng thuốc tiên phát: là những trường hợp, vi khuẩn kháng thuốc ở những bệnh nhân chưa từng được điều trị lao bao giờ hoặc được điều trị chưa được 1 tháng.  Kháng thuốc mắc phải: là những trường hợp, vi khuẩn kháng thuốc ở những bệnh nhân đã điều trị lao được từ 1 tháng trở lên, bao gồm cả những trường hợp thất bại điều trị và tái phát.  Đa kháng thuốc: là hiện tượng vi khuẩn lao kháng lại ít nhất hai loại thuốc chống lao, trong đó có kháng rifampicin và INH và kháng cùng với các thuốc chống lao khác. - Cơ chế kháng thuốc [8,9] Có hai giả thuyết giải thích cho cơ chế sự kháng thuốc của vi khuẩn lao:  Thuyết chọn lọc các gen đột biến: Trong quá trình nhân lên ở một số vi khuẩn, xuất hiện hiện tượng đột biến gen kháng thuốc với tần số nhất định.

Khi điều trị không đúng, tạo nên sự khuếch đại tần số đột biến gen kháng thuốc, gây nên sự kháng thuốc mắc phải.  Thuyết thích ứng: Theo một số tác giả, sở dĩ có sự kháng thuốc là do một số vi khuẩn lao thích ứng được với sự có mặt của thuốc chống lao nên tồn tại và phát triển. Sự kháng thuốc này không phải do đột biến gen. Tổng quan về isoniazid 1.

Cấu trúc hóa học Hình 1.1: Cấu trúc hóa học của isoniazid [2] 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Gồm có vòng pyridine và nhóm hydrazine  đều cần thiết cho hoạt tính sinh học của INH [19]. - Bột kết tinh trắng hoặc dạng kết tinh không màu. Dễ tan trong nước, khó tan trong ete và cloroform [2,19]. Dƣợc lực học 1.

Cơ chế tác dụng của isoniazid [1,8,9,42] Mặc dù isoniazid đã được sử dụng điều trị lao vài thập kỷ và đến nay vẫn được coi là thuốc số một trong điều trị tất cả các thể lao, nhưng cơ chế tác dụng của thuốc vẫn còn chưa được giải thích đầy đủ. Theo Takayama và cộng sự (1975), acid mycolic là một thành phần quan trọng trong cấu trúc mạng của trực khuẩn lao. Giai đoạn đầu của quá trình tổng hợp mycolic là sự kéo dài mạch của acid nhờ enzym desaturase. Với nồng độ rất thấp của INH, enzym này bị ức chế làm ngăn cản sự kéo dài mạch của acid mycolic dần dần giảm số lượng lipid của màng vi khuẩn làm vi khuẩn không phát triển được.

Ngoài ra, một số tác giả còn cho rằng, INH tạo chelat với Cu2+ và ức chế cạnh tranh với nicotinamid và pyridoxin làm rối loạn chuyển hóa của trực khuẩn lao. Phổ tác dụng Thuốc có tác dụng tốt với mọi dạng lao cả trong và ngoài phổi, cả thể cấp và thể mạn. Ngoài ra, ở nồng độ cao còn có tác dụng với vi khuẩn lao cơ hội như Mycobacterium kansasii [1]. Diệt khuẩn với vi khuẩn phân chia nhanh, kìm khuẩn với vi khuẩn trạng thái nghỉ.

Phổ tác dụng của isoniazid bao gồm một số loài của chi Mycobacterium: M. Isoniazid là một loại kháng sinh đặc hiệu cao đối với chi này; tuy nhiên, nó hầu như không hiệu quả đối với các loài vi sinh vật khác. Isoniazid vẫn là thuốc ưu tiên dùng để điều trị lao một phần do nồng độ ức chế tối thiểu xuất hiện của nó (MIC) là 0,1 - 0,7 μM để chống lại M. Mặc dù isoniazid thường xuyên phải phối hợp với các thuốc khác, nó cũng đã được chỉ định một mình như một tác nhân dự phòng [19].

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tác dụng không mong muốn của isoniazid [1,8] - Với gan: Viêm gan, hoại tử tế bào gan, tăng aminotransferase (AST, ALT). Độc tính với gan tăng lên nhiều nếu bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc gây độc với gan như rifampicin, pyrazinamid hoặc uống rượu. Để hạn chế độc tính với gan cần dùng kèm với thuốc bảo vệ gan trong thời gian điều trị và theo dõi định kỳ AST, ALT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ