Đặt vấn đề Đối với đất nước ta hiện nay nông nghiệp vẫn đang đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Ngành nông nghiệp Việt Nam đã đóng góp 86,4 tỷ USD vào GDP trong năm 2019. Hiện ngành này cũng đang cung cấp 27,5 triệu việc làm, chiếm một nửa lực lượng lao động trên cả nước và là nguồn tạo việc làm quan trọng nhất trong nền kinh tế. Trong đó địa bàn nông thôn chiếm một phần rất lớn trong sự phát triển của ngành nông nghiệp, Năm 2018, diện tích đất nông nghiệp Việt Nam là 27.454 ha bên cạnh đó là nguồn lao động dồi dào ở khu vực nông thôn là 63.249 người, chiếm 65,6% so với cả nước.
Vì vậy, nông thôn là nơi có địa hình và nguồn lực lao động cho sản xuất nông nghiệp dồi dào từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng, đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội cho cả nước nói chung. Với việc thực hiện chương trình “Nông thôn mới” đã đóng góp được những thành tựu vượt bậc khu vực nông thôn nước ta với những chuyển biến rõ nét trên mọi lĩnh vực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Đến hết năm 2020, Chương trình đã hoàn thành vượt 12,4% số xã đạt chuẩn NTM so với mục tiêu; đến tháng 7/2021, cả nước đã có 64,6% số xã đạt chuẩn NTM; Thu nhập của người dân năm 2020 tại khu vực nông thôn tăng nhanh hơn khu vực thành thị và mức tăng chung của cả nước trong giai đoạn 2010-2020. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng khu vực nông thôn năm 2020 đạt gần 3,5 triệu đồng/tháng, gấp 1,4 lần so với năm 2016 và gấp 3,25 lần so với năm 2010, 2021 (Đoàn Huyền, 2021).
Qua đó đời sống của người nông dân ở vùng nông thôn được cải thiện lên rất nhiều và tạo ra nhiều cơ hội phát triển và thay đổi cuộc sống. Trong đó phải kể đến sự thay đổi của Đồng bào 1 DTTS phân bố chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 87,3%) với gần 3,1 triệu hộ với 14,1 triệu người sinh sống 5.468 xã vùng DTTS&MN. Nhờ những chính sách phát triển kinh tế ở vùng nông thôn của Đảng và Nhà nước đã tạo ra được nhiều cơ hội của người Đồng bào DTTS ở những nơi vùng xâu vùng xa có thể tiếp cận được phương pháp phát triển nông nghiệp và làm thêm phong phú về đời sống tinh thần của người dân. Nhờ kết cấu hạ tầng kỹ thuật được tăng cường, nên sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc có bước phát triển khá hơn trước, nhất là sản xuất nông, lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực.
Một bộ phận đồng bào đã chuyển đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nương rẫy sang sản xuất thâm canh lúa nước. Đứng thứ hai trong nhóm Đồng bào DTTS là người Tày ở Việt Nam có dân số 1.492 người ( Nguyễn Ngọc Hà, 2019), là một trong số những đồng bào DTTS nhận sự phát triển tích cực qua đó nâng cao đời sống của người dân tộc Tày. Cùng với đó phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay đã mang lại giá trị lớn cho người dân cả nước nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và người dân tộc tày vùng miền núi nói riêng khi các sản phẩm nông nghiệp vùng miền ngày càng được nhiều khách hàng tin dùng. Đặc biệt, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, việc số hóa nông nghiệp đang mở ra cơ hội thu hẹp khoảng cách thị trường cho nông nghiệp vùng DTTS miền núi nói chung và Đồng bào dân tộc Tày nói riêng theo kịp thời đại.
Đời sống tinh thần của người dân tộc Tày cũng có những bức chuyển hướng rõ ràng, việc tiếp cận các thông tin về văn hóa, nghệ thuật, thể thao. dễ dàng để tiếp cận, đặc biệt là những tiến bộ khoa học, phương pháp áp dụng cho nông nghiệp phát triển nông nghiệp đã được người dân ứng dụng và học hỏi. Tuy nhiên với sự phân bố của người dân tộc Tày chủ yếu ở các miền núi điểm hình như tại Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5% tổng số người Tày tại Việt Nam). Đặc biệt tại xã địa 2 bàn Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang với địa hình trắc chở thuộc vùng xâu vùng xa là nơi tập trung rất nhiều người dân tộc tày, mặc dù trong những năm qua đã có những chuyển biến mới trong cả đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn còn gặp phải do địa hình chủ yếu là đồi núi, kinh tế phát triển chậm; kết cấu hạ tầng đã được đầu tư song chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn vì cả vật chất là tinh thần. Đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học về đời sống của người DTTS tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về đời sống của người dân tộc tày tại các vùng miền núi phía Bắc vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đời sống hộ gia đình người dân tộc Tày” (Nghiên cứu trường hợp tại xã Khuôn Lùng, huyện Xí Mần, tỉnh Hà Giang”. Nhằm tìm hiểu rõ hơn về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân tộc Tày trả lời cho câu hỏi hiện nay đời sống của các hộ gia đình người dân tộc Tày như thế nào? Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân tộc Tày ra làm sao? Từ đó đề tài: “Thực trạng đời sống hộ gia đình người dân tộc Tày” ( Nghiên cứu trường hợp tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang.) được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu tìm hiểu đời sống hộ gia đình người dân tộc Tày tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu về đặc điểm của các hộ gia đình người dân tộc Tày được điều tra tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang. - Tìm hiểu về đời sống vật chất của các hộ gia đình người dân tộc Tày được điều tra tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang. - Tìm hiểu về đời sống tinh thần của các hộ gia đình người dân tộc Tày được điều tra tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang.
Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập chung nguyên cứu Tìm hiểu đời sống các hộ gia đình người dân tộc Tày. Khách thể nghiên cứu Các hộ gia đình người dân tộc Tày có tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng lúa) tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian : Nghiên cứu được thực hiện đối với các gia đình người dân tộc Tày tại xã Khuôn Lùng huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang.
- Phạm vi thời gian : + Thông tin thứ cấp thu thập năm 2009 trở lại đây + Thông tin sơ cấp thu thập từ tháng 3/2022 - 4/2022 - Phạm vi nội dung : Đời sống hộ gia đình là một chủ đề tương đối rộng bao gồm đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống văn hóa, đời sống nghệ thuật, các yếu tố ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong đề tài này do điều kiện thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung tìm hiểu về đặc điểm của các hộ gia đình người dân tộc Tày, đời sống vật chất (thu nhập, chi tiêu, nhà ở, tiện nghi, sinh hoạt,…) và đời sống tinh thần (nhu cầu giải trí, hoạt động cộng đồng,…) của các hộ gia người dân tộc Tày. 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nguyên cứu 2.
Lý thuyết cấu trúc chức năng Xét về mặt thuật ngữ, thuyết cấu trúc chức năng còn được gọi là thuyết chức năng cấu trúc, thuyết chức năng hay thuyết hệ thống ra đời vào những năm 40, 50 của thế kỉ 20. Các nhà xã hội học gắn với thuyết này phải kể đến Emile Durkheim, Tacott Parsons, Robert Merton, Auguste Comte, Herbert Spencer, Vilfredo Pareto, Athur Radcliffe-Brown, Bronislaw Malinowski, Peter Blau và nhiều người khác. Nhưng dù với tên gọi nào, các tác giả đều nhấn mạnh đến tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành lên một chỉnh thể, trong đó, mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định. Thuyết cấu trúc - chức năng có nguồn gốc từ truyền thống khoa học xã hội Pháp và truyền thống khoa học Anh.
Truyền thống khoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định , trật tự của hệ thống với các bộ phận có quan hệ chức năng hữu cơ với chỉnh thể hệ thống , truyền thông khoa học Anh với thuyết tiến hóa , thuyết kinh tế , thuyết vị lợi , thuyết hữu cơ. Từ hai truyền thống này đã nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội nư là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định. Thuyết cấu trúc chức năng nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chính thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định , bền vững. Các xã hội là những hệ thống phức tạp bao gồm nhiều bộ phận đều có quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau , mỗi bộ phận đều có những ảnh hưởng đáng kể đối với những bộ phận còn lại.
Mỗi bộ phận của xã hội tồn tại và có chức năng quan trọng góp phần vào sự tồn tại hoặc vào việc duy trì tình trạng tốt của toàn thể xã hôi. Sự tồn tại của bất cứ bộ phận nào của xã hội sẽ được giải thích khi xác định được vai trò bộ phận đó với toàn thể xã hội. 5 Luận điểm gốc của cấu trúc chức năng, với tư cách là một tổng thể, các xã hội luôn là những hệ thống phức tạp. Những hệ thống này được tạo thành nhiều bộ phận khác nhau, giữa các bộ phận đó có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau.
Vì vậy, chúng có sự ảnh hưởng qua lại, sự thay đổi của bộ phận khác Vận dụng lý thuyết cấu trúc chức năng trong nghiên cứu đề tài, theo đó đời sống các hộ gia đình người dân tộc Tày được coi như một tổng thể bao gồm đời sống vật chất (gồm thu nhập, chi tiêu, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt,…) và đời sống tinh thần (gồm việc tham gia các tổ chức xã hội, hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động cộng đồng).