MỞ ĐẦU Dầu khí đã được phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chỉ sau năm 1984, ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có những bước đi vững chắc, ngày càng đóng góp nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế của cả nước. Dầu khí tập trung ở các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư Chính, Vũng Mây, Trường Sa. Khoáng sản từ dầu khí đang được thăm dò với cường độ cao. Trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng 1,7 tỷ tấn và trữ lượng khí vào khoảng 835 tỷ m3.
Trữ lượng dầu dự báo vào khoảng 6 tỷ tấn và khí vào khoảng 4000 tỷ m 3. Trong những năm gần đây, sản lượng khai thác dầu khí đều tăng cao, tính đến năm 2000 đã khai thác và xuất khẩu trên 80 triệu tấn dầu thô, đóng góp cho ngân sách Nhà nước một nguồn thu ngoại tệ đáng kể Giống như nhiều nước trong châu Á, Việt Nam sẽ tiếp tục tốc độ tăng trưởng nhanh với tỉ lệ tăng trưởng GDP đạt 8,3% trong năm 2007 và 8,5% trong năm 2008 [1]. Ngành công nghiệp Dầu khí đóng góp một tỉ trọng rất lớn trong nền kinh tế của Việt Nam. Năm 2007 doanh thu toàn Tập đoàn đạt 213.000 tỷ đồng, chiếm gần 19% GDP của cả nước [2], lĩnh vực khai thác đạt 22,77 triệu tấn qui dầu, trong đó dầu thô là 15,91 triệu tấn và khí là 6,86 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 8,8 tỷ USD [2].1 Tính cấp thiết và cơ sở lựa chọn đề tài luận văn Tuy nhiên cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng ngành công nhiệp dầu khí cũng phải đối đầu với những vấn nạn về môi trường do sự gia tăng nhiều loại chất thải từ quá trình từ các hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển và chế biến và chế biến.
Hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi sinh ra một số loại chất thải có số lượng lớn như nước thải sản xuất, khí thải chứa và các chất độc hại như dầu, sơn, nhớt, chất chống ăn mòn, pin không sử dụng , kim loại, SO 2. Nếu xử lý không triệt để hoặc quản lý chất thải không tốt sẽ làm ô nhiễm một vùng biển rộng lớn. Ngoài ra giai đoạn khai thác dầu khí thường diễn ra trong một thời gian dài 10-20 năm do đó nếu công tác quản lý chất thải không đựơc chú trọng sẽ gây hiện tượng tích tụ các chất độc hại trong môi trường biển.2 Mục tiêu và phạm vị nghiên cứu 1.1 Mục tiêu − Thu thập các thông tin có liên quan đến đặc điểm chất thải phát sinh trong giai đoạn khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam (cụ thể là mỏ dầu khí Đại Hùng). − Khảo sát công tác xử lý các chất thải phát sinh trong giai khai thác của mỏ d ầu khí Đại Hùng.
-4- − Đánh giá công tác quản lý chất thải tại mỏ Đại Hùng. − Đề xuất và kiến nghị công tác quản lý chất thải tại mỏ Đại Hùng tới năm 2010.2 Phạm vi − Mỏ dầu khí Đại Hùng ngoài khơi Việt Nam 1.3 Nội dung luận văn 1.1 Tổng quan về các phương pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường trong ngành công nghiệp dầu khí − Những tác động đối với môi trường của nước thải sản xuất − Tác động đối với môi trường của khí thải trong họat động thăm dò khai thác − Số liệu chất thải nguy hại phát sinh trong họat động khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam.2 Tổng quan các phương pháp xử lý chất thải nguy hại rắn − Phương pháp đốt − Phương pháp chôn lấp − Phương pháp sinh học 1.3 Khảo sát thu thập thông tin về mỏ Đại Hùng − Điều khiện tự nhiên − Điều kiện kinh tê và xã hội − Điều kiện về môi trường − Hiện trạng môi trường 1.4 Hiện trạng công tác quản lý kiểm sóat ô nhiễm tại mỏ dầu khí Đại Hùng − Hệ thống tổ chức − Các hệ thống thiết bị khai thác và phụ trợ trên mỏ Đại Hùng − Hệ thống kiểm soát ô nhiễm trên mỏ Đại hùng 1.5 Hiện trạng công tác xử lý chất thải nguy hại của nhà thầu phụ của Công ty dầu khí Đại Hùng − Hệ thống đốt chất thải nguy hại − Hệ thống xử lý nước thải 1.6 Đánh giá tổng thể công tác quản lý chất thải của mỏ Đại hùng − Đánh giá hệ thống xử lý nước thải sản xuất -5- − Hệ thống đốt khí đồng hành − Hệ thống xử lý chất thải nguy hại 1.4 Phương pháp nghiên cứu 1.1 Phương pháp nghiên cứu − Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp các tài liệu liên quan đến hoạt động dầu khí của mỏ Đại Hùng − Điều tra, khảo sát thực tế tại công ty dầu khí Đại Hùng, Công ty xử lý chất thải Việt Xanh, bãi chôn lấp.2 Ý nghĩa thực tiễn − Đánh giá được tình hình thu gom, xử lý chất thải của mỏ Đại Hùng. − Đề xuất những biện pháp quản lý nhằm giúp công tác quản lý chất thải của mỏ Đại Hùng ngày càng hoàn thiện. -6- CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MỎ DẦU ĐẠI HÙNG 2.1 Sơ lược tổng quan về ngành công nghiệp thăm dò khai thác dầu khí 2.1 Một số những khái niệm trong ngành công nghiệp dầu khí Ngành công nghiệp dầu khí thường được chia ra làm hai phần thượng nguồn và hạ nguồn [31].
Phần thượng nguồn trong công nghiệp dầu khí được hiểu là tìm kiếm, khai thác dầu thô và khí thiên nhiên. Công nghiệp hạ nguồn là ngành công nghiệp liên quan đến lọc hoá dầu thô, bán và phân phôi khí thiên nhiên và các sản phẩm được tách ra từ quá trình lọc hoá dầu. Giai đoạn thăm dò: bao gồm khảo sát địa vật lý, địa hóa và địa chất Khảo sát địa vật lý: Khảo sát địa vật lý vùng mỏ có thể tiến hành theo một số các như: Thăm dò bằng phương pháp trọng lực: dựa trên nền tảng những sự thay đổi khác nhau về lực hấp dẫn ví dụ như thành hệ đá. Bằng cách đo các lực này các nhà địa chất có thể cho biết chi tiết về các đặc tính của các địa tầng; dạng trầm tích nào triển vọng và nếu như có thể dù là dầu hay khí.
Thăm dò bằng phương pháp từ trường: với phương pháp này những dấu vết chung của các địa tầng trái đất được quan sát bằng việc đo những khác biệt trong những vùng từ trường khác nhau của trái đất. Thăm dò bằng phương pháp điện: đo cường độ điện trường tự nhiên, giá trị cao-thế móng nông, giá trị thấp -thế móng sâu. Ngoài ra người ta còn đo điện trở của các lớp đất đá để xây dựng mặt cắt điện. Thăm dò bằng phương pháp địa chấn: dựa trên những nền tảng hiện tượng tự nhiên của các sóng âm di chuyển trên những khoảng cách khác nhau sau khi phản xạ từ các địa tầng.
Sóng âm được hình thành bằng các súng bắn hơi và sẽ phản hồi lên bề mặt bởi các đường biên giữa các địa tầng khác nhau. Những khác biệt về tỷ trọng gây nên những khác biệt trong những mô hình phản xạ. Các máy ghi âm siêu nhỏ được kết nối với máy điện toán để quét cho toàn khu vực và các thông tin thu được sẽ được diễn giải dưới dạng hình vẽ. Các chuyên gia địa chất từ đó mà có thể nhận diện “Vùng mỏ hứa hẹn”.
Thăm dò bằng phương pháp đo phóng xạ: đo cường độ phóng xạ gama của đất đá và vẽ bản đồ đẳng trị của hàm lượng phóng xạ. Khảo sát địa chất: Mục đích của các phương pháp nghiên cứu địa chất là đo vẽ bản đồ địa chất và kiến tạo khu vực, xác định tuổi, thành phần khoáng vật - thạch học và sự phân bố sắp xếp chúng. -7- Các phương pháp địa hoá: Dầu khí di chuyển trong vỏ trái đất và có khi xuất hiện gần bề trái đất là cơ sở lấy mẫu phân tích địa hoá khí hoặc sinh hoá (vi khuẩn ăn hydrocacbon trong đất, đá và nước) nhằm xác định nguồn gốc vật chất sinh dầu khí Giai đoạn khoan thăm dò: Sau những khảo sát có triển vọng thì giàn khoan được dùng để khoan một hoặc một vài giếng khoan thăm dò. Công tác khoan sẽ chứng tỏ tiềm năng của vùng mỏ Giai đoạn thẩm lượng: Sau khi khoan thăm dò phát hiện thấy dầu khí, người ta sẽ tiến hành khoan một vài giếng thẩm lượng hoặc nhiều hơn.
Công tác khoan thẩm lượng sẽ chứng tỏ rõ hơn tiềm năng của vùng mỏ và xác định xem vùng mỏ đó có tính kinh tế không Giai đoạn phát triển và khai thác: Nếu như quá trình khoan thẩm lượng chứng minh rằng việc thu hồi dầu/khí từ vỉa là có hiệu quả trong việc trang trải các chi phí thu hồi dầu thì công tác khai thác có thể được tiến hành. Quá trình khai thác yêu cầu một số các công trình công trìnhđặc biệt tuỳ thuộc vào độ sâu mực nước, chi phí, năng lực vận chuyển sản phẩm hydrocabon, vòng đời dự tính của giàn khai thác, v.Một số cụm kết cấu khai thác khác nhau đang được sử dụng. • Giàn bọc thép cố định.2 Lịch sử thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam. Ở Việt Nam, công tác thăm dò dầu khí được tiến hành tại đồng bằng sông hồng từ cuối thập kỷ 1950 và ở thềm lục địa Nam Việt nam tư thập kỷ 1960.
Từ đó đến nay hơn 320 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí [9] có chiều sâu từ 1200m đến 5600m đã được thực hiện với trên 70 phát hiện dầu khí các bồ trũng sông Hồng, bồn trũng Nam Côn Sơn, bồn trũng Cửu Long và bồn trũng Malay - Thổ Chu. Tháng 5 năm 1984, dầu khí thương mại được phát hiện tại mỏ Bạch Hổ. Đặc biệt việc phát hiện tầng dầu trong đá móng tiền Đệ Tam vào tháng 5 năm 1987 và đưa vào khai thác tháng 9 năm 1990. Đến nay Việt nam đã ký được 50 hợp đồng dầu khí các loại, trong đó 27 hợp đồng còn hiệu liệu lực đang hoạt động.
Trữ lượng tiềm năm đạt 4,6 tỷ m3 qui ra dầu. Mười mỏ dầu khí đã được đưa và khai thác là Tiền hải C, Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư tử Đen, Đại Hùng, Lan Tây và PM3. Đặc điểm dầu khí Việt Nam Nhìn chung dầu thô Việt nam có bốn đặc điểm chính sau: -8- − Dầu chứa ít lưu huỳnh (0,03-0,09 trọng lượng), kim loại nặng Nikel: 1,05 - 4,9 ppm; Vanadi < 1ppm, hợp chất nitơ từ 0,05 - 0,032% trọng lượng. − Dầu nhẹ có tỷ trọng 0,830 - 0,850 − Dầu chứa nhiều parafin 15 - 27% trọng lượng.
− Có điểm chảy từ 22 - 36oC Như vậy, theo phân loại dầu thô Việt Nam thuộc loại nhẹ, ngọt, sạch nhiều parafin và có điểm chảy rất cao.