Nghiên cứu tương quan kiến thức thái độ hành vi sử dụng nhựa một lần tại Thủ Đức và Quận 9

Nghiên cứu đồ án tốt nghiệp đánh giá mối tương quan giữa kiến thức, thái độ và hành vi của người dân về sử dụng nhựa một lần tại quận Thủ Đức và quận 9 bằng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp đại học

2020

136
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tương quan kiến thức thái độ hành vi sử dụng nhựa một lần

Đồ án tốt nghiệp đánh giá tương quan giữa kiến thức, thái độ và hành vi của người dân đối với việc sử dụng nhựa một lần tại khu vực quận Thủ Đức và quận 9 bằng phương pháp thống kê ANOVA. Nghiên cứu này tập trung vào việc hiểu rõ mối liên hệ giữa nhận thức của người dân về tác hại của nhựa dùng một lần và hành vi thực tế của họ. Nhựa một lần bao gồm túi nylon, hộp xốp, ống hút, ly nhựa dùng một lần. Các sản phẩm này gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Phương pháp ANOVA cho phép phân tích sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng khảo sát. Từ đó xác định yếu tố nào tác động mạnh nhất đến hành vi sử dụng nhựa. Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn quận Thủ Đức và quận 9 thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

1.1. Định nghĩa nhựa một lần và thực trạng sử dụng hiện nay

Nhựa một lần là các sản phẩm nhựa được thiết kế chỉ sử dụng một lần trước khi bị vứt bỏ. Chúng bao gồm túi nylon, hộp đựng thực phẩm bằng xốp, ống hút nhựa, ly nhựa và dao kéo nhựa dùng một lần. Theo thống kê, Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia xả rác nhựa nhiều nhất ra đại dương. Mỗi ngày, hàng triệu sản phẩm nhựa một lần được tiêu thụ tại các thành phố lớn. Quận Thủ Đức và quận 9 có mật độ dân cư cao, lượng rác thải nhựa phát sinh rất lớn. Tình trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu và đánh giá hành vi sử dụng nhựa của người dân địa phương.

1.2. Mối tương quan giữa kiến thức thái độ và hành vi môi trường

II. Phân tích thực trạng sử dụng nhựa một lần tại quận Thủ Đức quận 9

Quận Thủ Đức và quận 9 là hai khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh. Dân số đông đúc kéo theo nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nhựa một lần tăng cao. Các chợ truyền thống, hàng quán ven đường và siêu thị là nguồn phát sinh chính rác thải nhựa. Người dân tại khu vực này chủ yếu sử dụng túi nylon để đựng thực phẩm hàng ngày. Hộp xốp và ly nhựa phổ biến tại các quán ăn vỉa hè. Khảo sát cho thấy phần lớn người dân nhận thức được tác hại của nhựa nhưng hành vi thay đổi chậm. Phương pháp ANOVA được áp dụng để so sánh mức độ khác biệt về kiến thức, thái độ và hành vi giữa các nhóm tuổi, trình độ học vấn và thu nhập. Kết quả phân tích chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm đối tượng.

2.1. Tình hình tiêu thụ sản phẩm nhựa một lần tại khu vực nghiên cứu

Khảo sát thực tế tại quận Thủ Đức và quận 9 cho thấy sản phẩm nhựa một lần hiện diện ở khắp nơi. Tại các chợ truyền thống như chợ Thủ Đức, chợ đầu mối nông sản, mỗi ngày sử dụng hàng ngàn túi nylon. Các hàng quán ăn uống sử dụng hộp xốp và ống hút nhựa với số lượng lớn. Siêu thị và cửa hàng tiện lợi cũng cung cấp túi nylon miễn phí cho khách hàng. Người dân có thói quen mua sắm mà không mang theo túi tái sử dụng. Thanh niên và sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn sử dụng nhiều đồ uống có ống hút nhựa. Tình trạng này tạo áp lực lớn lên hệ thống xử lý rác thải và môi trường sống tại địa phương.

2.2. Các yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến hành vi sử dụng nhựa

Phân tích ANOVA cho thấy các yếu tố nhân khẩu học có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng nhựa một lần. Nhóm người trẻ tuổi từ 18 đến 30 có kiến thức tốt hơn về tác hại nhựa so với nhóm trên 50 tuổi. Tuy nhiên, nhóm lớn tuổi lại có hành vi tiết kiệm và tái sử dụng nhựa tốt hơn. Trình độ học vấn cao thường đi kèm với nhận thức môi trường tốt hơn. Yếu tố thu nhập cũng ảnh hưởng đến lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường. Người có thu nhập cao sẵn sàng chi trả thêm cho sản phẩm thay thế nhựa. Kết quả phân phương sai xác nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm về kiến thức và hành vi sử dụng nhựa.

III. Phương pháp thống kê ANOVA và thiết kế nghiên cứu đánh giá tương quan

Phương pháp ANOVA là kỹ thuật phân tích thống kê so sánh trung bình giữa nhiều nhóm đối tượng cùng lúc. Trong nghiên cứu này, ANOVA một chiều và hai chiều được sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm nhân khẩu học. Thiết kế nghiên cứu bao gồm phiếu khảo sát với các câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi sử dụng nhựa một lần. Thang đo Likert năm điểm được áp dụng để đo lường mức độ đồng thuận của người tham gia. Mẫu nghiên cứu gồm 300 người dân sinh sống tại quận Thủ Đức và quận 9. Thu thập dữ liệu qua hình thức khảo sát trực tuyến và trực tiếp tại các khu vực công cộng. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS với mức ý nghĩa thống kê p nhỏ hơn 0.05. Kết quả ANOVA giúp xác định nhóm nào có sự khác biệt đáng kể về kiến thức, thái độ và hành vi.

3.1. Thiết kế phiếu khảo sát và quy trình thu thập dữ liệu nghiên cứu

Phiếu khảo sát được thiết kế với ba phần chính đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi sử dụng nhựa một lần. Phần kiến thức gồm các câu hỏi đúng sai về tác hại của nhựa đối với môi trường và sức khỏe. Phần thái độ đo lường mức độ quan tâm và sẵn sàng thay đổi hành vi của người dân. Phần hành vi ghi nhận tần suất sử dụng các sản phẩm nhựa một lần trong sinh hoạt hàng ngày. Khảo sát trực tuyến được đăng tải trên các diễn đàn và mạng xã hội để tiếp cận người trẻ. Khảo sát trực tiếp được thực hiện tại chợ, công viên và khu dân cư để tiếp cận người lớn tuổi. Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài hai tháng với sự hỗ trợ của đội ngũ điều tra viên được đào tạo bài bản.

3.2. Kỹ thuật phân tích phương sai ANOVA và cách đọc kết quả thống kê

Phân tích phương sai ANOVA kiểm tra giả thuyết về sự khác biệt trung bình giữa các nhóm nghiên cứu. Giả thuyết không H0 giả định không có sự khác biệt giữa các nhóm về kiến thức, thái độ và hành vi. Giả thuyết đối H1 giả định có ít nhất một cặp nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Giá trị F tính được so sánh với F bảng để đưa ra quyết định bác bỏ hoặc chấp nhận giả thuyết không. Nếu p-value nhỏ hơn 0.05, bác bỏ giả thuyết không và kết luận có sự khác biệt có ý nghĩa. Kiểm định post-hoc Tukey được sử dụng để xác định cặp nhóm cụ thể có sự khác biệt. Kết quả phân tích giúp nhà nghiên cứu hiểu rõ yếu tố nào cần tập trung cải thiện trong chiến lược truyền thông bảo vệ môi trường.

IV. Kết luận và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn bảo vệ môi trường

Nghiên cứu đã hoàn thành mục tiêu đánh giá tương quan giữa kiến thức, thái độ và hành vi sử dụng nhựa một lần tại quận Thủ Đức và quận 9. Kết quả ANOVA cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi và trình độ học vấn về kiến thức môi trường. Nhóm người có trình độ đại học trở lên có điểm kiến thức cao hơn đáng kể so với nhóm trung học cơ sở. Thái độ quan tâm đến môi trường không khác biệt nhiều giữa các nhóm thu nhập. Tuy nhiên, hành vi thực tế vẫn còn khoảng cách lớn so với kiến thức và thái độ. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể. Chương trình giáo dục môi trường cần được đẩy mạnh tại các trường học và khu dân cư. Chính quyền địa phương nên ban hành quy định hạn chế sử dụng nhựa một lần.

4.1. Tổng hợp kết quả phân tích ANOVA và ý nghĩa của nghiên cứu

Kết quả phân tích ANOVA xác nhận giả thuyết về sự khác biệt kiến thức môi trường giữa các nhóm trình độ học vấn. Giá trị F tính được lớn hơn F bảng với mức ý nghĩa p nhỏ hơn 0.01. Kiểm định post-hoc Tukey cho thấy nhóm đại học khác biệt có ý nghĩa với nhóm trung học cơ sở và trung học phổ thông. Về hành vi sử dụng nhựa, nhóm tuổi 18 đến 30 có tần suất sử dụng nhựa một lần cao nhất. Nhóm trên 50 tuổi có hành vi tái sử dụng nhựa tốt hơn nhờ thói quen tiết kiệm. Nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học cho các chương trình truyền thông môi trường tại địa phương. Kết quả cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về hành vi tiêu dùng bền vững.

4.2. Đề xuất giải pháp giảm thiểu nhựa một lần dựa trên kết quả nghiên cứu

Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp cụ thể để giảm thiểu nhựa một lần. Chương trình truyền thông nên tập trung vào nhóm trẻ tuổi có kiến thức nhưng hành vi chưa thay đổi. Ứng dụng công nghệ số như mạng xã hội là kênh tiếp cận hiệu quả với nhóm sinh viên. Tại các chợ truyền thống, cần bố trí điểm đổi túi nylon lấy túi vải thân thiện môi trường. Doanh nghiệp nên được khuyến khích sản xuất bao bì thân thiện từ nguyên liệu phân hủy sinh học. Chính quyền địa phương cần ban hành quy định bắt buộc sử dụng túi tự hủy tại các cơ sở kinh doanh. Hoạt động tình nguyện thu gom rác nhựa tại cộng đồng giúp nâng cao ý thức người dân. Giải pháp tổng thể kết hợp giữa giáo dục, truyền thông và chính sách quản lý sẽ mang lại hiệu quả bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Đồ án tốt nghiệp đánh giá tương quan giữa kiến thức thái độ và hành vi của người dân đối với việc sử dụng nhựa một lần tại khu vực quận thủ đức và quận 9 bằng phương pháp thống kê anova

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Nghiên cứu ngoài nước Vào năm 2011, nghiên cứu mang tên “Khảo sát về việc sử dụng túi nhựa, cách xử lý các tác động xấu đến môi trường: Một trường hợp nghiên cứu trong Thành phố Jimma, [8] Tây Nam Ethipia” được thực hiện bởi Leglie Adane và Diriba Muleta. Nghiên cứu cho thấy chất thải của túi nhựa gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và các vấn đề đến sức khỏe ở người và động vật.

Khó khăn nhất là ở quốc gia có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế như Ethiopia. Mục tiêu của khảo sát là để đánh giá việc sử dụng túi nhựa và các tác động môi trường của chúng tại Thành phố Jimma của Ethiopia. Các kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng túi nhựa thường xuyên hơn bất kỳ sản phẩm nhựa khác. Nh ưng lý do chính là vì túi nhựa có giá thành thấp và tính tiện dụng sẵn có.

Và hành động sử dụng lãng phí và đổ rác ra các khu vực xung quanh là một thực tế xảy ra hầu hết trên các thành phố. Một vấn đề chính là nguyên nhân gây chết động vật, tắc nghẽn đường ống nước thải, suy giảm vẻ đẹp tự nhiên của môi trường và sức khỏe con người chính là vấn đề đáng quan tâm. Những phát hiện của nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng xu hướng sử dụng túi nhựa đang tăng lên theo thời gian mặc dù nhận thức tốt của người dân về tác dụng phụ của sản phẩm này. Để giảm các vấn đề liên quan đến túi nhựa lãng phí, khuyến cáo giáo dục người dân, không sử dụng túi nhựa và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường như vật liệu thay thế túi làm từ quần áo, sợi tự nhiên và giấy.

Đặc biệt pháp luật cấp thành phố cũng rất khuyến khích chống sử dụng bừa bãi và xử lý các chất thải túi nhựa cũng như chấm dứt phân phối miễn phí túi nhựa của các nhà bán lẻ. Năm 2013, có một nghiên cứu mang tên “Nghiên cứu về thái độ của sinh viên lớp 8 về việc sử dụng nhựa ở khu vực Gwarko, Balkumari, Lalitpur” của tác giả Elsevier Ltd[10]. Bài nghiên cứu đưa ra một cuộc điều tra thực nghiệm có hệ thống để tìm hiểu việc sử dụng vật liệu nhựa cho học sinh lớp tám. Một phương pháp khảo sát đã được thực hiện với thang đo Likert năm điểm để đo lường thái độ.

Nghiên cứu đã phát triển sự hiểu biết tổng thể về kiến thức đối với hành vi dưới tác động của việc sử dụng nhựa. Khoảng cách giữa kiến thức và hành vi được đặt dưới những thách thức từ việc tích lũy kiến thức, đến xây dựng thái độ và thay đổi hành vi. Chuyển kiến thức sang 4 hành vi bị mất một số kiến thức do chế độ và công cụ chuyển giao. Tốc độ chuyển giao kiến thức học thuật rất tốt nhưng quá trình này bị ảnh hưởng bởi các rào cản giáo dục và các yếu tố xã hội khác.

Trong cuộc sống hằng ngày, hầu hết các sản phẩm nhựa đều dễ sử dụng và cực kỳ phổ biến trong các gia đình. Lứa tuổi vị thành niên đã quen với việc sử dụng một số sản phẩm nhựa từ khi còn nhỏ mà không biết tác động tiêu cực của nhựa. Thông qua gia đình, trường học và văn học, khá dễ dàng để có được thông tin, kiến thức liên quan đến nhựa có tác động tiêu cực đến môi trường. Thái độ của việc sử dụng nhựa là gì? Đây là vấn đề nghiên cứu này tìm cách điều tra.

Thái độ phản ánh các tác động học tập đối với hành vi (Greenwald, 1968). Do đó, nếu thái độ thay đổi do giáo dục, thì điều này sẽ chỉ ra rằng hệ thống giáo dục hiện tại ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của học sinh và suy nghĩ của họ. Để tạo ra một môi trường tốt hơn cho tất cả mọi người, điều quan trọng là phải nhận ra các tác động tiêu cực của nhựa và hạn chế sử dụng các sản phẩm nhựa trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu này đã trình bày thái độ của học sinh lớp tám của Nepal về việc sử dụng vật liệu nhựa là trọng tâm chính.

Lý thuyết về hành vi có kế hoạch có chủ đích của Icek Ajzen đưa ra định hướng cho nghiên cứu này. Cũng tương tư như thế vào năm 2018, trong đề nghiên cứu mang tên “Khảo sát về nhận thức và thái độ của công dân về nhựa ô nhiễm ở Hatay/ Samandag Thổ Nhĩ Kỳ” được thực hiên bởi Sedat Gündoğdu và cộng sự [8]. Nghiên cứu đã cho biết được rằng các yếu tố như: nhận thức và thái độ về việc nhựa có hại cho môi trường, ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng túi nhựa. Theo nghiên cứu, những người dân có mức độ nhận thức cao về ô nhiễm nhựa và họ nhận thức được rằng nhựa có tác động xấu đến cho môi trường.

Tuy nhiên, nó đã xác định rằng những người dân không sẵn s àng chuyển đổi nhận thức của họ để hành động. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Đánh giá ý thức sử dụng túi ni lông của người dân tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên của tác giả Đoàn Thị Thảo năm 2009, đánh giá ý thức sử dụng [3] túi ni lông của người bán hàng và người tiêu dùng. Cả thành phố có mức tiêu thụ túi ni lông cao, sử dụng lãng phí, không cần thiết và chưa có dấu hiệu của việc giảm sử dụng. Tính ưu việt của túi ni lông so với các vật liệu túi khác là có độ bền cơ học cao, bền trong môi trường.

Nhận thức của người tiêu dùng về túi ni lông còn hạn chế, nên 5 việc sử dụng còn chưa hợp lý. Từ việc đánh giá ý thức sử dụng túi ni lông của người dân, tác giả cũng đưa ra được một số giải pháp về quản lý rác thải ni lông nhằm bảo vệ môi trường hiện tại và tương lai. Có thể thấy, chúng ta luôn bắt gặp túi ni lông vì hầu như bất cứ đồ vật gì mua cũng được đựng vào túi ni lông. Kết quả hành động của xử lý túi ni lông đã sử dụng của người bán hàng là theo thói quen khi người bán hàng sử dụng túi ni lông để đựng hàng cho khách thì theo thói quen khách v ẫn cầm và sử dụng.

Nghiên cứu “Thay thế thói quen xã hội trong việc sử dụng túi ni lông bằng túi vải” của nhóm tác giả Hoàng Thị Mai, Lê Thị Thương, Nguyễn Thị Huệ, Hoàng Thị Trúc Quỳnh [4] năm 2013 đã tiến hành thu thập thông tin để biết được tình trạng sử dụng túi ni lông. Sau đó, cho người dân thấy được tác hại của việc sử dụng túi ni lông trong sinh hoạt. Song song đó trình bày được tác hại của túi ni lông, giới thiệu mô hình túi vải trong sinh hoạt và lợi ích khi sử dụng nó. Nghiên cứu cũng đã tìm hiểu và đánh giá được nhận thức của người dân về mức độ cần thiết về việc sử dụng túi vải.

Nhóm nghiên cứu sử dụng lý thuyết xã hội hóa và hành động xã hội của Max Weber nhằm giải thích rõ hơn nữa về hành động của từng các nhân, cũng như hành động xã hội trong việc sử dụng túi vải thay thế túi ni lông. Lý thuyết hành vi khi sử dụng túi ni lông và điều kiện môi trường nào đã làm chuyển hướng hành vi từ sử dụng túi ni lông sang dùng túi vải. Thuyết nhận thức sẽ giúp người dân nhận thức được về những tác hại mà túi ni lông mang lại, đồng thời giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của túi vải trong việc bảo vệ môi trường, từ đó hình thành thói quen sử dụng túi vải trong sinh hoạt. Nghiên cứu “Khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam” của Ths.

Trần Thu [3] Hương – Cán bộ kỹ thuật cấp cao , WWF – Việt Nam ( WWF là tên viết tắt của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên hay còn biết với các tên gọi Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới hay Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Toàn Cầu. Tên đầy đủ tiếng anh là World Wide Fund For Nature. Tiền thân là Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới – World Wildlife Fund. Đây là một tổ chức phi chính phủ quốc tế đầu tiên hoạt động ở Việt Nam.

Theo như nghiên cứu thì rác nhựa bị thải ra môi trường phần lớn đến từ Châu Á. Trung Quốc, Philipine và Việt Nam là những nước đứng đầu danh sách thải nhựa. WWF mong muốn xây dựng dự án thí điểm tại 5 nước Đông Nam Á từ đó xây dựng mạng lưới đô thị giảm nhựa trên toàn cầu.WWF đã xây dựng một cổng thông tin về các đô thị trong mang lưới và mời các thành phố tham gia bằng các thể hiện cam kết giảm thiểu nhựa của họ. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nền tảng các lý thuyết và mô hình: Khung lý thuyết của 6 Han Bresser về đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn, chất thải nhựa, sử dụng khung đánh giá tính phù hợp của các tỉnh/thành với dự án đô thị giảm nhựa của WWF.

Sử dụng khung DPSIR kết hợp với tính toán dòng chất thải (MFA). Tổng quan về rác thải nhựa Hiện nay vấn đề chất thải nhựa đang là mối quan tâm của toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Rác thải nhựa gây ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường đe dọa đến sự phát triển bền vững, ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Rác thải nhựa là những chất khó phân hủy trong nhiều môi trường, phải mất hàng trăm năm hoặc cả nghìn năm thì chất thải từ nhựa mới có thể phân hủy hoàn toàn.

Chúng gây ảnh hưởng đến quá trình sinh sống và phát triển của động thực vật, làm ô nhiễm môi trường sống của con người, gây mất cảnh quan, làm thu hẹp diện tích sống …Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, ước tính mỗi năm lượng rác thải nhựa do con người thải ra phủ kín 4 lần diện tích bề mặt trái đất. Mỗi năm có đến 8 triệu tấn rác thải nhựa trôi ra các đại dương. Đến năm 2030 có khoảng 300 triệu tấn rác thải trong đại dương, và có trên 240 loài sinh vật biển bị vướng phải rác thải nhựa hoặc ăn phải rác thải nhựa. Hiện có 05 quốc gia có rác thải nhựa lớn nhất thế giới là Trung Quốc, Indonesia, Philippin, Việt Nam và Thái Lan, chiếm 55-60% tổng lượng rác thải nhựa ra đại dương [15].

Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế nhanh gây nên một áp lực lớn đến môi trường thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ