Chương 1: Giới Thiệu Chung - Chương 2: Cơ Sở Lý Luận - Chương 3: Tổng Quan - Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu và Thảo Luận - Chương 5: Kết Luận và Kiến Nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Vai Trò của Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông nghiệp Việt Nam đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ năm 198]; tức là từ khi thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, khóa 4 (khoán 100). Từ đó đến nay, đường lối chủ trương chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn của Đảng liên tục được hoàn thiện theo quá trình đổi mới chung của đất nước. Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị (khoán 10) thừa nhận: “.
tư cách pháp nhân, bảo đảm bình dang về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ quyển làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể .”; Luật Đất Dai ban hành năm 1993 cũng quy định rõ quyển sử dụng đất của hộ gia đình. Những chính sách này đã gắn nông dân với đất đai, khai thác tốt tiềm năng của từng gia đình nông dân để phát triển sản xuất nông nghiệp. Kinh tế hộ gia đình trở thành một chủ thể phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường, tạo nên những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, đóng góp phan quan trọng trong tổng sản phẩm quốc dân cũng như tổng kim ngạch xuất khẩu. Kinh tế hộ gia đình đóng vai trò đặc biệt trong giải quyết nhu cầu lương thực thực phẩm cho cả nước, đẩm bảo an toàn lương thực cho Quốc Gia.
Hộ nông dân còn là nguồn cung cấp lao động đổi dao để phát triển các ngành nghề ở nông thôn và các ngành công nghiệp, dịch vụ, góp phần phát triển nông thôn và đất nước theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đóng Góp của Ngành Chăn Nuôi trong Kinh Tế Hộ Theo một nghiên cứu của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (Dự án VIE/98/004/B/01/99), trong cơ cấu kinh tế hộ gia đình, chăn nuôi chiếm một vị trí khá quan trọng. Khoảng 82% số hộ gia đình được điều tra có chăn nuôi trong gia đình. Ngành chăn nuôi da và đang đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nông thôn và kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam.
Điều này dựa trên quan điểm cho rằng chăn nuôi là hợp phần quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn thu và tăng trưởng kinh tế hộ gia đình. Với ít triển vọng về tăng sản lượng lúa, rau mau và sự thay đổi về nhu cầu tiêu dùng cả ở thị trường trong nước lẫn nước ngoài, ngành chăn nuôi đã trở thành một trụ cột cho chiến lược phát triển nông nghiệp, vì một số lý do sau: - Việc tăng sản phẩm chăn nuôi (đặc biệt là đối với các loài động vật có vòng đời ngắn như heo, gà, vịt, cút.), trong bối cảnh đặc tính của cơ cấu nên nông nghiệp là sản xuất quy mô nhỏ, tạo cơ hội cho thu nhập bình quân trên một hecta đất canh tác cao hơn là trồng trọt. - Phát triển công nghiệp chăn nuôi sé phụ thuộc vào một số ngành kinh tế có quy mô lớn như: chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến sản phẩm súc san. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho một sự phối hợp tốt hơn giữa khu vực sản xuất hàng hóa quy mô lớn với các hộ sản xuất nhỏ, điều này có thể dẫn đến biến đổi _ lớn thu nhập của các hộ gia đình.
- Phát triển chăn nuôi đóng góp một phân đáng kể cho việc cải thiện thành phần dinh dưỡng cho người dân thông qua việc tăng thêm chất đạm vào chế độ ăn uống và giúp xóa bồ tình trạng suy đinh dưỡng. - Phát triển mạnh chăn nuôi tạo ra một sự cân đối tỷ trọng chăn nuôi - trồng trọt trong cơ cấu ngành nông nghiệp và góp phần tăng thu nhập cho các hộ nồng dân. Tăng Trưởng Chăn Nuôi của Kinh Tế Hộ với Vấn Đề Môi Trường Nhờ ứng dụng những tiến bộ khoa học - công nghệ mới vào chăn nuôi, đã nâng cao năng suất vật nuôi và năng suất lao động của người chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm chăn nuôi của xã hội. Song mặt khác, do chỉ tập trung vào tăng năng suất, quy mô sản xuất theo nhu cầu và lợi ích trước mắt, khai thác tối đa tiểm năng vật nuôi, mà chưa quan tâm đến chất thải của vật nuôi ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Nếu kết hợp các biện pháp xử lý chất thải hiệu quả, các hoạt động chăn nuôi cũng có thể góp phần tạo ra sự cân bằng của môi trường sinh thái. Trong đó, việc kết hợp phát triển chăn nuôi với trồng trọt có thể tạo điều kiện cải tạo đất đai và nâng cao năng suất của cây trồng. Tác Động của Chất Thải Chăn Nuôi Đến Môi Trường Như Thế Nào? Ô nhiễm môi trường: là quá trình chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường, gây ảnh hưởng đến nhiều quá trình khác nhau trong sản xuất và sinh hoạt của con người. Ô Nhiễm Không Khí Do Khí Thai Chăn Nuôi Khí thải là loại khí được sinh ra trong chuồng nuôi và bãi chứa chất thai chăn nuôi, Do quá trình phân huỷ hiếu khí và ky khí, quá trình hô hấp của vi sinh vật tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau, trong đó loại khí NH; (Amoniac) và HS (Hydrogen Sulphide) có tác động xấu với người chăn nuôi, gây viêm phổi, choáng váng và có thể dẫn đến hôn mê, tử vong.
Đối với heo, hai khí này làm giảm năng suất heo, sinh ra chứng viêm phổi, ngứa mũi miệng, thở gấp co giật, chứng thủng ở phổi và dẫn đến tử vong. Ô Nhiễm Đất Do Chất Thải Chăn Nuôi Chất thải chăn nuôi chứa một lượng lớn chất hữu cơ và các chất N, P, K nên dùng làm phân bón sẽ tăng độ màu mỡ cho đất góp phần tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, khi lượng chất thải này quá nhiều không được cây trồng hấp thụ hết, sẽ tích tụ lại trong đất gây bão hòa chất dinh dưỡng, mất cân bằng sinh hóa đất, thoái hóa đất và làm 6 nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm (do bi rửa trôi và thẩm thấu). Chất thải chăn nuôi còn chứa nhiều loại vi sinh vật, ấu trùng và trứng giun sán gây nhiều bệnh tật nguy hiểm cho người và gia súc.
Các loại này có thể tồn tại sinh sản trong đất, đặc biệt là loại vi khuẩn có nha bào và trứng giun sán có thể tôn tại từ vài tháng đến vài năm. Khi dùng phân tươi để bón cây, rau mau thì nguy cơ nhiễm bệnh cho người và gia súc sẽ gia tăng. Ô Nhiễm Nguồn Nước Do Chất Thải Chăn Nuôi Lượng chất thải chăn nuôi thải vào môi trường quá lớn sẽ gây 6 nhiễm và phú dưỡng hóa nguồn nước mặt (ao hồ, sông suối, đầm lay. Hơn nữa, trong quá trình thẩm thấu của nước sẽ đem theo các chất gây ô nhiễm và vi sinh vật thâm nhập vào nguồn nước ngầm.
Phân và nước tiểu gia súc chứa nhiều vi khuẩn, ấu trùng và trứng giun sán có thể trở thành nguồn lây bệnh cho người và gia súc khi sử dụng nguồn nước này, đặc biệt là các vùng sông rạch không có nguồn nước sinh hoạt. Hình 1: Sơ Đô Sự Ô Nhiễm của Chất Thải Chăn Nuôi nhiễm không khí Khí sinh ra trong quá trình phân huỷ chăn nuôi Thải vào nguồn nước Thải ra đất Gây phú đưỡng nguồn Ô nhiễm đất do VSV, nước mặt, nhiễm bẩn ấu trùng, thoai hóa nguồn nước ngầm đất Nguồn: Diéu tra tổng hợp 2. Một Số Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Chăn Nuôi 2. Chế Biến Phân Hữu Cơ Phân heo là một trong những loại phân hữu cơ được sử dụng phổ biến và lâu đời ở các nước cũng như nước ta, vì phân heo có một khối lượng lớn và dễ tập trung để làm phân.
Mục đích chính của việc trộn ủ (chế biến) là: - Xử lý mâm bệnh có thể lây lan ảnh hưởng đến con người và cây trồng. - Biến các chất dinh dưỡng trong phân từ khó tiêu sang dễ tiêu để cây trông sử dụng. - Khử được mùi hôi thối gây ô nhiễm, giảm khối lượng, dễ dàng bón cho cây trồng. & Ủ hiếu khí: Gọi là ủ hiếu khí vì trong quá trình ủ, đống phân được tơi xốp, thoáng khí, do đó các vi sinh vật háo khí hoạt động rất mạnh, làm cho nhiệt độ trong đống phân có lúc lên đến 60C, sau 45-60 ngày là có thể đem phân bón ruộng được, lúc này phân không còn thối như phân tươi vì được phân giải nhanh ở điều kiện thoáng khí và nóng, các chất hữu cơ mau mục, đạm trong phân bị mất đi nhiều.
& U yếm khí: Mục đích của phương pháp này là ủ chặt, hạn chế sự mất đạm, có thể để phân từ 4 đến 6 tháng mới sử dụng, không cần dùng phân nhanh. Cách ủ này cũng tương tự như ủ hiếu khí, khác là nén chặt các lớp phân và các chất hữu cơ, tạo điều kiện yếm khí trong đống phân, và ủ đống lớn hơn, cao hơn, đồng thời chất độn ding ít hơn. Do điều kiện yếm khí nên đống phân ít nóng và lâu hoai mục hơn phân ủ tơi. Ủ theo phương pháp này có thể ủ nổi hoặc ủ chìm.
Để ủ chìm, người ta đào một cái hố (hố lớn hoặc nhỏ, sâu, cạn là tùy lượng phân ta định ủ), nện chặt dưới đáy và chung quanh, sau đó tiến hành trộn ủ. & U mỳ tiện: Đây là cách kết hợp giữa ủ hiếu khí và ủ yếm khí. Thời gian đầu nên ủ tơi để phân mau mục. Sau đó đảo phân lên và vun đống, nén chặt cho đỡ mất 10 đạm trong quá trình ủ tiếp theo (ủ yếm khí).
Ủ theo cách này, sau 2-3 tháng có thể đem phân ra bón ruộng được. Khí Sinh Học Là Gì? Khí sinh học (biogas) là một sản phẩm có giá trị sinh ra từ quá trình ủ phân, một loại khí cháy tốt, có thể dùng để đun nấu, thắp sáng, phát điện. Ngoài ra, phần còn lại của quá trình sinh khí vẫn là một loại phân bón, thậm chí độ dinh dưỡng và khả năng tạo mùn còn tốt hơn phân tươi, hạn chế được mùi hôi và mầm bệnh, nghĩa là đã hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường (TS.Hóa Học Nguyễn Đức Thạch, 2000). Thiết Bị Khí Sinh Học - Bộ phận phân hủy: là nơi chứa nguyên liệu và đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hủy ky khí xảy ra (đây là bộ phận chủ yếu của thiết bị).
- Bộ phận chứa khí: khí sinh ra từ bộ phận phân hủy được chứa tại đây.