MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt nam là một nƣớc có tỷ lệ phát triển nông nghiệp cao, chiếm hơn 70% trong tổng sản phẩm thu nhập quốc dân (GDP). Trƣớc đây, nghề trồng cây lƣơng thực đóng góp đa số cho ngành nông nghiệp nƣớc ta. Và hiện nay, việc gia tăng sản lƣợng thực phẩm từ chăn nuôi gia súc cũng đã đem lại những bƣớc tiến mới trong nông nghiệp.
Nó đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, từ trồng trọt sang chăn nuôi, đồng thời cải thiện đáng kể đời sống kinh tế của nông dân. Tuy nhiên, việc phát triển các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm tự phát một cách tràn lan, ồ ạt trong điều kiện ngƣời nông dân thiếu vốn, thiếu hiểu biết đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trƣờng và ảnh hƣởng đến sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, với chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ thiếu quy hoạch, nhất là các vùng dân cƣ đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trƣờng ngày càng trầm trọng. Ô nhiễm môi trƣờng do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật.
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trƣờng có ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe con ngƣời, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh và chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế, sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) thì trên 50 bệnh truyền nhiễm có nguồn gốc từ phân ngƣời và gia súc. Hiện nay, tỉ lệ các bệnh dịch từ gia súc, gia cầm đang gia tăng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nếu vấn đề này không đƣợc giải quyết triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trƣờng và tác động nghiêm trọng, ảnh n 2 hƣởng xấu đến sức khỏe cộng đồng đặc biệt là với những ngƣời trực tiếp chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Việt Nam là nƣớc có nền nông nghiệp đang phát triển mạnh mẽ, tỉ lệ các hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm ngày càng nhiều, hơn nữa tỉ lệ các trang trại cũng ngày một gia tăng. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trƣờng do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm), có thể là nguồn truyền nhiễm của nhiều bệnh ra môi trƣờng và cộng đồng, đặc biệt là một số bệnh có khả năng lây nhiễm cho con ngƣời cao nhƣ: cúm lợn, tai xanh, lở mồm long móng, ỉa chảy… nếu nhƣ không đƣợc xử lý đúng quy trình vệ sinh và đảm bảo an toàn. Yên Sơn là xã thuộc vùng chiêm chũng nằm ở phía Tây Nam của huyện Lục Nam, cách trung tâm huyện khoảng 10km về phía Tây. Yên Sơn là xã nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, địa hình bằng phẳng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, chủ yếu trong đó việc phát triển chăn nuôi đàn gia súc đang đƣợc bà con nhân dân áp dụng vào phát triển kinh tế hộ gia đình.
Tuy vậy, các chất thải rắn nhƣ phân gia súc, chất độn chuồng, thức ăn thừa…và nƣớc thải từ hoạt động chăn nuôi không đƣợc xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ rồi thải ra môi trƣờng đã gây tác động xấu đến nguồn nƣớc, đất, không khí và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe ngƣời chăn nuôi gia súc nói riêng và các hộ dân cƣ xung quanh nói chung. Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá hiện trạng xử lý chất thải chăn nuôi lợn và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại trại Nguyễn Thị Thu Hà, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang”.Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát về trang trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thị Thu Hà, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang. - Đánh giá hiện trạng chăn nuôi tại trại Nguyễn Thị Thu Hà, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang. n 3 - Đánh giá chất lƣợng nƣớc thải chăn nuôi tại trang trại lợn.
- Đánh giá ảnh hƣởng của chất thải từ trang trại chăn nuôi lợn đến con ngƣời và môi trƣờng. - Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng trong trang trại chăn nuôi lợn trong điều kiện thực tế ở địa phƣơng. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu sẽ đánh giá một phần hiện trạng ngành chăn nuôi lợn tại xã Yên Sơn, huyện Lục Nam. Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trƣờng cho các hộ chăn nuôi.
Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ cho việc học tập và công tác nghiên cứu sau này. - Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trƣờng trong chăn nuôi, và đề xuất những giải pháp để cải thiện cảnh quan môi trƣờng cho khu vực quanh trang trại và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng sống cho cộng đồng đân cƣ. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận Chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ yếu trong phát triển ngành chăn nuôi của Việt Nam. Trong 5 năm gần đây sản lƣợng thịt lợn chiếm 76% sản lƣợng thịt hơi các loại. Sản phẩm thịt lợn là sản phẩm quen thuộc và không thể thiếu đối ngƣời Việt Nam ta, nó đã trở thành loại thức ăn phổ biến nhất so với những loại thịt khác trên thị trƣờng nhƣ thịt bò, thịt trâu, thịt gà, tôm, cua…Chính vì thế ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam trong những năm qua đã góp phần chủ đạo vào việc đáp ứng nhu cầu về dinh dƣỡng cho ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân ở nông thôn Việt Nam [1]. Với những đặc điểm riêng có, chăn nuôi lợn là hoạt động sản xuất có thể tận dụng đƣợc lao động và thức ăn thừa góp phần tiết kiệm chi phí và tăng một phần thu nhập cho gia đình, cho nên hoạt động chăn nuôi này chính là loại hình chăn nuôi phổ biến nhất trong số các loại hình chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay.
Đối với các hộ gia đình sản xuất nhỏ, chăn nuôi lợn là hoạt động chính để tiết kiệm thức ăn thừa, lao động nhàn rỗi, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt và cải tạo chất đất, tăng sức sản xuất cho đất nông nghiệp. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, chăn nuôi lợn với quy mô lớn sẽ là biện pháp hiệu quả để tiết kiệm chi phí mua chất đốt và điện thắp sáng nhờ sử dụng khí Biogas từ chăn nuôi lợn. Mặt khác, theo báo cáo của tổ chức Lƣơng thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) cho thấy ngành chăn nuôi đã và đang gây ra những vấn đề về môi trƣờng nghiêm trọng nhƣ thoái hóa đất, biến đổi khí hậu, ô nhiễm n 5 không khí, gây thiếu nƣớc, ô nhiễm nguồn nƣớc, mất đa dạng sinh học. Tổng diện tích cho ngành chăn nuôi chiếm 26% diện tích bề mặt không phủ băng tuyết của trái đất, thêm vào đó là 33% diện tích đất trồng đƣợc dành để sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Vì vậy việc mở rộng chăn nuôi dẫn đến mất rừng làm cho đất bị xói mòn vào mùa mƣa và khô hạn vào mùa khô. Trong quá trình chăn nuôi lƣợng khí CO2 thải ra chiếm 9% toàn cầu và lƣợng khí CH4 (một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23 lần CO2) chiếm 37%. Quá trình chăn nuôi còn tạo ra 65% lƣợng khí NOx (có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO2) và tạo ra khoảng 2/3 tổng lƣợng phát thải khí NH3 nguyên nhân chính gây mƣa axit phá hủy các hệ sinh thái [2]. Ngoài ra ngành chăn nuôi còn làm giảm lƣợng nƣớc bổ sung cho các mạch nƣớc ngầm do mất rừng và đất bị thoái hóa, chai cứng giảm khả năng thẩm thấu.
Tất cả các tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi đến môi trƣờng dẫn đến kết quả tất yếu là làm suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy hoạt động của các trang trại chăn nuôi phải đƣợc quản lý và có biện pháp xử lý chất thải phù hợp. Cơ sở pháp lý Công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng phải đƣợc dựa trên các văn bản pháp luật, pháp quy của cơ quan quản lý nhà nƣớc. Từ năm 1993 đến nay đã có các văn bản chính về quản lý và bảo vệ môi trƣờng đó là: -Luật Bảo vệ môi trƣờng số 55/2014/QH13, ban hành ngày 23/06/2014 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
- Luật Tài nguyên nƣớc số 17/2012/QH13, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012. - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của chính phủ về việc Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trƣờng. n 6 - Nghị định 117/2009/NĐ-CP, ngày 31 tháng 12 năm 2009 về việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. - Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Thông tƣ liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 26 tháng 3 năm 2000 của liên Bộ Nông nghiệp và Tổng Cục Thống kê. Quy định về tiêu chí đánh giá quy mô của một trang trại chăn nuôi. - Thông tƣ 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13 tháng 4 năm 2011, Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. - Thông tƣ số 47/2011/TT-BTNMT, ngày 28 tháng 12 năm 2011 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trƣờng.
- Thông tƣ 04/2010/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn, trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học. - QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nƣớc thải công nghiệp. - QCVN 01-14 -2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học - QCVN 01-15 -2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học - QCVN 01-79 -2011/BNN&PTNT: Quy trình đánh giá kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y - QCVN 01-12:2009/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Thức ăn chăn nuôi - Hàm lƣợng kháng sinh, hoá dƣợc, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp. - QCVN 01 - 39: 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh nƣớc dùng trong chăn nuôi.
n 7 - QCVN 01 - 78: 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Thức ăn chăn nuôi - Các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và mức giới hạn tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi.