CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KHẢO SÁT 1. Một số chỉ tiêu sinh lý ở chó bình thường Theo Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang (2006) máu là một thể dịch lưu thông trong hệ tuần hoàn, đóng vai trò môi giới giữa các cơ quan trong cơ thể. Thành phần của máu bao gồm huyết tương và huyết cầu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu). Về khối lượng, máu chiếm khoảng 8% so với toàn cơ thể.
Máu có chức năng như vận chuyển oxy từ phổi tới mô bào và CO2 từ mô bào về phổi để thải ra ngoài (hô hấp), vận chuyển chất dinh dưỡng hấp thu được từ ống tiêu hóa tới mô bào để nuôi dưỡng (dinh dưỡng), vận chuyển CO2 và các sản phẩm cặn bã trong quá trình dị hóa đến các cơ quan bài tiết như thận, da, phổi và ống tiêu hóa để thải ra ngoài (bài tiết). Máu vận chuyển nhiệt, nước để điều hòa hoạt động cơ thể. Máu có thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh và các độc tố. Có thể chống mất máu khi tổn thương thành mạch nhờ quá trình cầm máu.
Máu còn tham gia điều hòa pH nội môi thông qua hệ thống đệm, điều hòa lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu keo. Ngoài ra máu còn tham gia điều hòa thân nhiệt. Do đó, sự rối loạn trong chức năng của máu dẫn đến sự mất cân bằng trao đổi chất trong cơ thể, làm cho thú giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh. Một số chỉ tiêu sinh lý máu được thể hiện qua Bảng 1.
Một số chỉ tiêu sinh lý máu trên chó Chó khỏe Chỉ tiêu theo dõi Chỉ số trung bình Khoảng biến động Số lượng hồng cầu (triệu/mm3) 6,17±0,35 5,54 – 8,13 Hàm lượng huyết sắc tố (g/dL) 13,88 ± 0,25 12,95 -15,41 Số lượng bạch cầu (nghìn/mm3) 9,46 ± 0,34 7,23 – 11,35 Bạch cầu đa nhân trung tính (%) 63,21 ± 0,18 58,93 – 66,25 Bạch cầu ái toàn(%) 5,7±0,22 5,03 – 6,69 Lâm ba cầu (%) 26,83 ± 0,25 25,02 – 28,07 Bạch cầu ái kiềm (%) 0,51 ±0,05 0,4 – 1,12 Tiểu cầu tổng số (nghìn/mm3) 117 – 460 175 – 500 (Nguyễn Tất Toàn, 2013) Số lượng hồng cầu phụ thuộc vào yếu tố như giới tính, lứa tuổi, vận động, dinh dưỡng, mang thai, tiết sữa, cao độ, hoạt động vật lý. Về tuổi, gia súc mới sinh có số lượng hồng cầu khá cao rồi giảm dần. Thú cái có số lượng hồng cầu cao hơn thú đực khoảng 5- 10%…Ngoài ra, tốc độ phá hủy hồng cầu cũng ảnh hưởng đến số lượng hồng cầu. Số lượng hồng cầu giảm do mất máu, thiếu máu, sản xuất không đủ, đặc biệt là bệnh thiếu máu truyền nhiễm.
Vì vậy xác định hồng cầu có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh. Trong các trường hợp bệnh lý làm cơ thể mất nước, thiếu máu, bệnh gây vỡ hồng cầu thì số lượng hồng cầu giảm rõ rệt. Hàm lượng huyết sắc tố là số gam Hemoglobin (Hb) chứa trong 100ml máu (g) và thay đổi theo nhóm giống, lứa tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe con vật. Hàm lượng huyết sắc tố tỷ lệ thuận với số lượng hồng cầu.
Tùy vào tăng giảm của số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin mà cho ra những trường hợp thiếu máu khác nhau: thiếu máu nhược sắc, ưu sắc và đẳng sắc. Do đó, trong chẩn đoán, việc định lượng huyết sắc tố là rất quan trọng, nó không những cho biết số lượng, chức năng của hồng cầu mà còn tìm được nguyên nhân của trạng thái thiếu máu. Bạch cầu có kích thước lớn hơn hồng cầu, có nhân, bào quan và hạt. Chúng sử dụng mạch máu như một công cụ vận chuyển chúng đến những vị trí viêm do vi 4 khuẩn, siêu vi, nấm hoặc ký sinh trùng.
Bạch cầu có nhiều loại, mỗi loại có cơ chế bảo vệ cơ thể khác nhau. Số lượng bạch cầu thay đổi đáng kể. Trong sinh lý bình thường, chúng tăng sau bữa ăn, thay đổi theo tuổi. Trong hệ tuần hoàn, bạch cầu phân bố không đều, chúng tích tụ quanh mạch máu của hệ tiêu hóa trong lúc tiêu hóa.
Trong bệnh lý, giảm khi bị bệnh do siêu vi. Khi cơ thể nhiễm trùng kéo dài, quá trình sản xuất bạch cầu tăng để tiếp tục duy trì số lượng lớn. Có năm loại bạch cầu, chia làm 2 nhóm là bạch cầu hạt và bạch cầu không hạt. Bạch cầu hạt gồm 3 loại: Trung tính, ưa acid và ưa base.
Bạch cầu không hạt có 2 loại là đơn nhân và lâm ba cầu. Thực tế gọi bạch cầu không hạt là do hạt trong nguyên sinh chất không bắt màu lúc nhuộm. Chức năng cơ bản của các loại bạch cầu được tóm tắt như sau: Bạch cầu trung tính chiếm hơn 50% tổng số bạch cầu, hầu hết dự trữ trong xương. Giai đoạn còn non, nhân dạng hình móng ngựa, gậy, khi già nhân chia 2-5 thùy nên còn gọi là bạch cầu đa nhân.
Bạch cầu trung tính có tính vận động amip, xuyên mạch, thực bào vi khuẩn và vật nhỏ nên có tính bảo vệ cơ thể, tăng trong nhiều bệnh truyền nhiễm, phản ứng viêm có mủ, ngộ độc, tiêm protein lạ vào cơ thể. Bạch cầu ưa acid có nhân hình móng ngựa, bầu dục, ba lá, tế bào chất có hạt bắt màu Eosin. Bạch cầu này ít có khả năng ăn và tiêu hóa vi khuẩn nên không có tính bảo vệ cơ thể, chúng tập trung quanh vùng bị ký sinh trùng hoặc dị ứng. Độc tố bạch cầu ưa acid giúp tiêu diệt ký sinh trùng.
Số lượng chúng tăng trong trường hợp ký sinh trùng, dị ứng, bệnh trên da, giảm khi thú bị stress. Bạch cầu ưa base có rất ít trong máu, chúng chứa hạt phân tiết histamin và heparin, đóng vai trò đáp ứng dị ứng. Bạch cầu đơn nhân lớn còn được gọi là đại thực bào, có vai trò loại bỏ các mô bào chết, bảo vệ cơ thể. Chúng nằm trong mạch máu chỉ vài giờ, sau đó cư trú ở mô bào, một vài đại thực bào không di động, có thể sống vài năm.
Lâm ba cầu có khả năng vận động amip giới hạn, được tạo thành từ nốt bạch huyết, lách và tuyến ức. Giống như đại thực bào, lâm ba cầu có thể sống nhiều năm, chúng di chuyển từ cơ quan bạch huyết vào dòng máu vài giờ trước khi định cư ở mô bào, sau đó quay lại mô bào làm nhiệm vụ kiểm soát. Lâm ba cầu bảo vệ cơ thể bằng 5 cách kích thích hệ thống miễn dịch tạo kháng thể tiêu diệt vi sinh vật và chống tế bào ung thư. Công thức bạch cầu thay đổi theo tuổi, sinh lý, bệnh lý cùng với sự xáo trộn của cơ quan tạo máu.
Mỗi loại bạch cầu có tỷ lệ phần trăm và chức năng khác nhau tùy theo phản ứng miễn dịch của cơ thể để đề kháng bệnh. Dựa vào sự thay đổi tỷ lệ các loại bạch cầu trong công thức bạch cầu, có thể dự đoán tiến trình phòng vệ cơ thể. Diễn tiến chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu: Tổng số bạch cầu tăng cùng với bạch cầu trung tính tăng Giai đoạn bệnh: Tổng số bạch cầu giảm cùng với bạch cầu đơn nhân tăng Giai đoạn lành bệnh: Tổng số bạch cầu tiếp tục giảm, bạch cầu ưa acid và lâm ba tăng. Tiểu cầu không có nhân nên không có khả năng phân chia tế bào.
Cả hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu đều được tạo thành ở tủy xương. Tiểu cầu có hình bầu dục, hình thoi, có phần nhô ra ngoài như giả túc, kích thước nhỏ hơn hồng cầu, màng tiểu cầu có nhiều chỗ lõm hình thành hệ thống kênh như giả túc. Khi mạch máu vỡ (có sự xuất huyết), tiểu cầu gắn vào bề mặt vết thương, giải phóng các chất phân giải ngoại bào trong túi bào quan qua hệ thống kênh giả túc. Tiểu cầu chứa nhiều actin và myosin để co bóp.
Số lượng tiểu cầu thấp ở thú non, giảm trong bệnh truyền nhiễm cấp tính, choáng và dị ứng, tăng trong lúc tiêu hóa và mang thai. Tiểu cầu không rời dòng máu, dự trữ số lượng lớn ở mạch máu của lách, đời sống trung bình 10 ngày. Theo Nguyễn Quang Mai (2004), tiểu cầu có chức năng sinh lý sau: Chất thromboplastin do tiểu cầu giải phóng ra là yếu tố quan trọng trong quá trình làm đông máu. Làm co các mạch máu khi bị thương: Chất serotonin do tiểu cầu giải phóng ra có tác dụng làm co các mạch máu của cơ thể khi bị tổn thương.
Tiểu cầu có khả năng làm ngưng kết lại và củng cố sự cầm máu khi bị thương. Thiếu máu làm giảm về số lượng tế bào máu đỏ (hồng cầu) hoặc hàm lượng hemoglobin ít hơn lượng bình thường trong máu. Tuy nhiên, nó có thể là giảm khả năng ràng buộc oxy của mỗi phân tử hemoglobin do sự biến dạng của hồng cầu hay 6 thiếu hụt hemoglobin. Hemoglobin (tìm thấy trong hồng cầu) mang oxy từ phổi đến các mô bào do đó thiếu máu dẫn đến tình trạng thiếu oxy trong các cơ quan, mức độ thiếu máu khác nhau trong bệnh thiếu máu có thể gây ra một loạt các hậu quả lâm sàng, nặng có thể gây chết cho thú.
Trong số các biểu hiện lâm sàng có thể quan sát đó là sự nhợt nhạt của niêm mạc vùng miệng và thể trạng suy yếu, thú ít hoạt động, lờ đờ. Sơ lược về hiện tượng ký sinh và ký sinh trùng Theo Lê Hữu Khương (2012), hiện tượng ký sinh là mối quan hệ phức tạp giữa hai sinh vật, trong đó một sinh vật (ký sinh trùng) tạm thời hay thường xuyên cư trú trong hoặc trên cơ thể sinh vật khác (ký chủ). Ký sinh trùng lấy thể dịch, tổ chức tế bào của ký chủ làm thức ăn và đồng thời gây tổn hại cho ký chủ về mặt sinh học. Nguồn gốc ký sinh trùng đường máu: Ký sinh trùng kí sinh trong máu động vật phần lớn là các động vật đơn bào, được hình thành bởi 2 con đường: Nguồn gốc từ động vật ký sinh trong ruột động vật không xương sống.
Điển hình là trùng roi Trypanosoma app, ở trâu, bò bắt nguồn từ trùng roi Trypanosoma spp có ở ruột của Tabanus spp (mòng) và Stomoxyst spp (ruồi trâu) hay ve chó nâu Rhipocephalus sanguineus trên chó, mèo. Nguồn từ động vật ký sinh ở đường tiêu hóa của chính động vật có xương sống. Điển hình là Schellarea (cầu trùng) sống trong biểu bì ruột của động vật có xương sống, trải qua quá trình sinh sản phức tạp tạo ra các bào tử, các bào tử này xâm nhập và sống ký sinh trong hồng cầu của động vật này (Phạm Sỹ Lăng, 2009). Tổng quan về bệnh do Ehrlichia canis 1.
Đặc điểm nguyên căn Theo phân loại của Hildebrandt (1973), loài Ehrlichia canis, thuộc giống Ehrlichia, họ Anaplasmataceae, bộ Rickettsiales, là vi khuẩn thuộc nhóm α- proteobacteria.