Đặt vấn đề Nha đam là cây mong nước thuộc chi A/ove, mọc nhiều ở các vùng có khí hậu nóng và khô. Chúng xuất hiện trong nghìn năm lịch sử, nhiều văn bản cô đại đã ghi lại cách sử dụng và đặc tính trị liệu của cây nha đam. Đầu thé ki XX, cây nha dam được trồng phổ biến ở khu vực duyên hai miền trung Việt Nam, được dùng trong y dược, làm đẹp, làm cảnh. Trong tất cả các bộ phận khác nhau của cây nha đam (Aloe vera) có nhiều hợp chất hoạt tính sinh học nhất định là polysacarit, glycoprotein, aloein, axit amin, protein, vitamin (A, B12, E, B, Choline), canxi, axit béo thiết yếu và anthracine.
Cây nha đam đã được ghi nhận là có nhiều lợi ích dược ly bao gom chống viêm, điều hòa miễn dịch, chống nhiễm trùng, kháng nam, hạ đường huyét hoặc trị đái tháo đường, chống ung thư, bảo vệ dạ dày, tăng cường sức khỏe tim mạch, cải thiện chức năng gan và cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh ngoài da, chữa bỏng, chữa lành vết thương, các vấn đề về sức khỏe quá man cảm, hỗ trợ chuyền hóa lipid và carbohydrate, giúp duy trì lượng đường và cholesterol bình thường trong máu và trọng lượng cơ thê ở mức bình thường. Trong công nghiệp thực pham, nha đam đã được sử dụng như một nguồn nguyên liệu thực phẩm chức năng, đặc biệt là dé làm đồ uống tốt cho sức khỏe và nước giải khát, các loại thạch. Ung dụng của Aloe vera gel trong ngành công nghiệp dược pham là sản xuất thuốc mỡ bôi ngoài da, chế pham gel, viên nén và viên nang có liên quan. Aloe vera gel cũng được ứng dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm và vệ sinh, nha đam được sử dụng làm nguyên liệu co bản dé điều chế kem, nước thơm, xà phòng, dau gội và sữa rửa mặt.
Hiện nay nhu cầu sử dụng cây nha đam phục vụ cho đời sống là rất lớn. Tuy nhiên, nhân giống theo phương pháp truyền thống không thé đáp ứng khi sản xuất cây nha đam trên qui mô lớn. Do đó, sử dụng cây giống in vitro làm nguồn cây giống đầu dòng sẽ đảm bảo cây sạch bệnh, cây con đồng đều và đảm bảo chất lượng. Hơn nữa, nha đam là cây mọng nước và là thực vật CAM nên việc sử dụng hàm lượng đạm Nitrat và thời gian chiếu sáng hợp lý sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển khi nuôi cây trong giai đoạn in vitro và ngoài đông ruộng.
Xuât từ những điêu nay đê tài “Khảo sát ảnh hưởng của đạm Nitrat, ánh sáng và chất điều hòa sinh trưởng đến sự phát triển cây nha đam in vitro (Aloe vera)” được thực hiện.2 Mục tiêu đề tài Xác định nồng độ đạm Nitrat tối ưu cho nuôi cay tạo chồi của cây nha dam (Aloe vera) trong điều kiện in vitro. Xác định thời gian chiếu sáng đến sự sinh trưởng của chồi cây nha đam (Aloe vera) trong điều kiện in vitro. Xác định nồng độ phù hợp của các chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng tạo rễ cây nha dam (Aloe vera) trong nhân giống in vitro.3 Nội dung thực hiện Khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ đạm Nitrat đến quá trình sinh trưởng của chéi cây nha dam in vitro. Khảo sát sự anh hưởng của thời gian chiếu sáng đến sự sinh trưởng của chồi cây nha dam in vitro.
Khao sát ảnh hưởng của của nồng độ NAA đến quá trình tạo rễ cây nha dam in vitro. TONG QUAN TÀI LIEU 2.1 Giới thiệu về cây nha dam (Aloe vera) 2.1 Nguồn gốc Giới: Plantae Nhánh: Tracheophytes Nhánh: Angiosperms Nhánh: Monocots Bộ: Asparagales Họ: Asphodelaceae Phân họ: Asphodeloideae ANH rib Hình 2. Cây Nha đam tại nhà lưới phòng Loài: Aloe vera Nuôi cây mô tê bào thực vật Dựa trên mối quan hệ tiễn hóa được hỗ trợ mạnh mẽ với các loài tương tự về mặt hình thái, nghiên cứu mới cho thấy Aloe vera có nguồn gốc từ bán đảo A Rap (Dr. Tài liệu đầu tiên về cây nha đam được tìm thấy trên phiến đất sét của người Sumeri có từ năm 2100 TCN, và đã được tìm thay ở thành phó Nippur.
Cây được dùng làm chất làm dịu vào năm 2200 TCN. Một tài liệu của Ai Cập được viết vào khoảng năm 1550 TCN, đưa ra 12 công thức pha trộn Aloe với các chất khác đề điều trị các rối loạn bên trong và bên ngoài cơ thé con người. Nữ hoàng Ai Cập Nefertiti (1353 TCN) và Nữ hoàng Cleopatra VII (69-30 TCN) đã sử dụng nha đam như một phần không thể thiếu trong phương pháp làm đẹp thường xuyên của ho (Samuel va Ria, 2016). Nền văn minh Kemet cổ đại ở Thung lũng sông Nile đã sử dụng nha đam để làm thuốc trị liệu, chăm sóc sắc đẹp và ướp xác (Manvitha và Bidya, 2014).
Vào thế kỷ thứ 7, Materia Medicas của Trung Quéc đã viết về việc sử dụng Aloe vera cho bệnh viêm xoang và các bệnh ngoài da (Dr. Ngày nay nha đam được sử dụng dé chống viêm, điều hòa miễn dịch, chống nhiễm trùng, kháng nam, hạ đường huyết hoặc trị đái tháo đường, chống ung thư, bảo vệ dạ dày, tăng cường sức khỏe tim mạch, cải thiện chức năng gan và cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh ngoài da, chữa bỏng, chữa lành vết thương, các van đề về sức khỏe quá man cảm (Haroon, Shahid, Hussain, và Raza, 2018) và cải thiện bài tiết insulin và chức năng tế bao B tuyến tụy (Aysha Noor, S. Gunasekaran và MA Vyayalakshmi, 2017).2 Đặc điểm hình thái của cây nha đam Thân Nha đam là một loại cây không thân hoặc có thân rất ngắn, cao từ 60—100 cm, lan rộng theo các nhánh. Lá nha đam dày, nhiều thịt và mọng nước, lá ở dạng hoa thị.
Ở cây non, lá xuất hiện ở mặt đất, nhưng cây có thé dài đến 25 cm ở những cây già hơn. Có thé có 12-16 lá trên mỗi cây, lá non ít nhiều mọc thăng, trong khi lá già thấp hơn lá xòe rộng hơn. Cây trưởng thành khi khoảng 4 tuổi và có tuôi thọ khoảng 12 năm. Khi cây nha dam trưởng thành, các lá riêng lẻ có thé đạt chiều cao từ 60-90 cm và dai và 5—10 cm trên gốc, thuôn nhọn, mép lá có rang cưa nhỏ màu trắng.
Ở cây non và trong các chồi non mọc từ gốc cây, lá có màu xanh tươi với những đôm trang không đều cả từ hai phía. Khi hoa thị trưởng thành, các lá kế tiếp có ít dom hơn và lá trưởng thành hoàn toàn có màu xanh xám không tì vết màu sắc (Eshun và ctv, 2004). Lá bao gồm có 3 lớp vỏ, nhựa mủ và gel. Vỏ dày bên ngoài bao gồm 15-20 tế bào giúp bảo vệ ma trận gel và giúp tổng hợp carbohydrate và protein.
Nhựa mủ là lớp giữa chứa antraquinon, nhựa cây vàng đắng và glycoside. Gel là lớp bên trong bao gồm các mô mềm, trong, âm và trơn có các tế bào nhu mô lớn. Day là một chất nhày giống như thạch trong suốt, nó chứa nước (99%), glucomannans, axit amin, lipid, sterol và vitamin (Abid Aslam Maan va ctv, 2018). Hoa được tạo ra vào mùa hè trên cành cao đến 90 cm, mỗi bông hoa rủ xuống, với một tràng hoa hình ống màu vàng dài 2-3 cm.3 Đặc điểm sinh lý của cây nha đam Nha đam là loài thực thực vật CAM có giá trị kinh tế cao.
Đặc trưng của thực vật CAM là khả năng duy trì trạng thái nước thuận lợi thông qua khả năng giảm thiểu sự thoát hơi nước bang cách đóng khí khổng vào ban ngày và mở khí khổng vào ban đêm khi thâm hụt áp suất hơi thấp. Một đặc điểm chung khác của thực vật CAM là mọng nước, được đặc trưng bởi các tế bào có không bào lớn. So với các loài C3 và C4, thực vật CAM có đặc điểm là mật độ khí không thấp hơn, điều này được điều chỉnh bởi lượng nước sẵn có của thực vật. Lá của các loài thực vat CAM có thé được chia thành hai phần chính, khu vực bên ngoài màu xanh xám bao gồm từ lớp biểu bì đến các bó mạch trên 4 cả bề mặt trục, mặt trong, và vùng bên trong bao gồm các tế bào có không bào lớn chứa gel hoặc hydrenchyma.
Lớp trung bì có lục lạp, làm cho lớp trung bì trở thành một mô hoạt động quang hợp và có thé ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu giữ COa do ảnh hưởng của lục lạp đối với khả năng kháng khuếch tán. Ở thực vật CAM, sự mat nước giảm đi nhờ sự hấp thụ CO› vào ban đêm với sự tong hợp hiệu quả đường và chất thâm thấu cho phép giữ nước (Herman Silva và ctv, 2014). Cây nha đam có khả năng chịu hạn tốt, thích hợp trồng ở những nơi có ngày nắng trong năm cao như các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. Aloe vera có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh.
Cây thích ánh sáng nhưng cần tránh ánh nắng quá mạnh vì có thể gây cháy lá. Tuy nhiên, cây dễ bị chột khi tích nước quá nhiều trong mùa mưa hoặc khi tưới quá nhiều nước. Đặc biệt, giống cây này sợ sương lạnh, nhiệt độ dưới 5 độ C sẽ làm cây ngừng sinh trưởng (Vườn An Nam, 2023). Thực vật CAM có khả năng giữ nước rat tốt, cũng như rất hiệu quả trong việc sử dụng Nitơ.
Khi giảm lượng đạm nitrat sẽ thúc đây quang hop CAM hoạt động tốt hơn khi có dinh dưỡng đạm nitrat đầy đủ (Koichi Ota, 1988; M. Các nghiên cứu đã được thực hiện không chỉ cho thấy rằng tăng hay giảm của Nitơ là yếu tố quan trọng dé giảm/tăng biểu hiện CAM, mà nông độ cuối cùng của chất dinh dưỡng đa lượng này có ảnh hưởng rõ rệt đến CAM (J. Vì vậy, nồng độ dam nitrat ảnh hưởng đến sự phát triển của cây nha đam. Claudia Diez và các cộng tác viên (2017), cây Vanilla là thực vật CAM.
Kết quả cho thấy rằng cường độ ánh sáng cao làm thay đổi chức năng của cây Vanilla, ức chế quá trình quang hợp và tăng trưởng, môi trường có nhiều bóng râm không ảnh hưởng đáng ké đến quá trình quang hợp CAM của cây Vanilla. Tuy nhiên, về lâu dài, loài này cho thấy khả năng quang hợp và tăng trưởng sinh khối cao hơn ở mức độ bức xạ trung bình (17-31% RI). Một nghiên cứu khác về cay Crassula helmsii là thực vật thủy sinh quang hợp CAM cho thấy ảnh hưởng của ánh sáng và CO› quy định của quả trình quang hợp CAM. Sau 3 tuần tăng trưởng và phát triển ở điều kiện có ánh sáng cao (230 pmol photon m-2 s—1), C.
helmsii hiển thị quang hop CAM cao hơn 2,8 lần ở 2 nồng độ CO: (22 so với 230 mmol m-3). helmsii phát triển trong điều kiện ánh sáng yếu (23 umol photon m” s') ở cả hai nồng độ CO.