Luận văn Trần Thị Thu An: Phân tích sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân mổ lấy thai

Luận văn phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh mổ lấy thai tại BVĐK Đông Anh. Khảo sát nguyên tắc, lựa chọn và liều dùng kháng sinh dự phòng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ Chuyên khoa Cấp 1

2024

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kháng Sinh Mổ Lấy Thai Tại BV Đông Anh

Bệnh viện Đông Anh đã áp dụng các quy trình kháng sinh tiên tiến trong mổ lấy thai để giảm thiểu nguy hiểm nhiễm trùng sau mổ. Kháng sinh phòng ngừa được sử dụng một cách hợp lý, tuân theo hướng dẫn quốc tế. Quy trình này không chỉ bảo vệ sức khỏe sản phụ mà còn đảm bảo an toàn cho thai nhi. Các bác sĩ tại bệnh viện được đào tạo chuyên sâu về việc lựa chọn và sử dụng kháng sinh phù hợp. Điều này giúp giảm tỷ lệ biến chứng sau mổ đẻ lên đến 85%.

1.1. Vai Trò Của Kháng Sinh Phòng Ngừa

Kháng sinh phòng ngừa được tiêm trước khoảng 60 phút trước khi mổ, giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. Tại BV Đông Anh, các loại kháng sinh được lựa chọn dựa trên tình trạng sức khỏe và tiền sử dị ứng của từng sản phụ. Liều lượng được điều chỉnh theo cân nặng bệnh nhân để đạt hiệu quả tối ưu. Phương pháp này tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn quốc tế.

1.2. Các Loại Kháng Sinh Thường Dùng

Cephalosporin thế hệ thứ nhất là lựa chọn hàng đầu do hiệu quả cao và ít gây dị ứng. Đối với sản phụ dị ứng với Penicillin, Clindamycin kết hợp Gentamicin là lựa chọn thay thế. BV Đông Anh áp dụng quy trình kiểm tra dị ứng kỹ lưỡng trước mổ. Thời gian dùng kháng sinh được kéo dài 24 giờ sau mổ để đảm bảo hiệu quả.

II. Quy Trình Tiêm Kháng Sinh Trước Mổ

Quy trình tiêm kháng sinh tại BV Đông Anh được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế cực kỳ chặt chẽ. Từ khâu kiểm tra dị ứng, xác định liều lượng cho đến thời điểm tiêm đều được tính toán kỹ lưỡng. Nhân viên y tế được đào tạo chuyên biệt để thực hiện đúng kỹ thuật. Việc theo dõi phản ứng của sản phụ sau tiêm cũng được thực hiện liên tục. Điều này đảm bảo an toàn tuyệt đối cho cả mẹ và con.

2.1. Thời Điểm Tiêm Tối Ưu

Kháng sinh nên được tiêm trong vòng 60 phút trước khi mổ, hoặc 120 phút đối với Vancomycin. Tại BV Đông Anh, các bác sĩ ghi chép chính xác thời gian tiêm để đảm bảo nồng độ kháng sinh trong máu đạt mức cao nhất lúc mổ. Nếu mổ kéo dài hơn 2 giờ, liều kháng sinh bổ sung được tiêm. Phương pháp này giúp duy trì hiệu quả kháng khuẩn trong suốt quá trình mổ.

2.2. Quan Sát Và Xử Trí Phản Ứng

Sau khi tiêm kháng sinh, sản phụ được theo dõi các dấu hiệu dị ứng như ngứa, phát ban, khó thở. Nhân viên y tế luôn sẵn sàng xử trí các tình huống khẩn cấp. Nếu phát hiện phản ứng dị ứng, ngay lập tức tiêm epinephrine. Các biện pháp hỗ trợ hô hấp, tim mạch được chuẩn bị sẵn sàng.

III. Theo Dõi Và Chăm Sóc Sau Mổ

Chăm sóc sau mổ lấy thai tại BV Đông Anh bao gồm tiếp tục sử dụng kháng sinh trong 24 giờ đầu tiên. Sản phụ được theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng như sốt cao, chảy máu bất thường, mủ từ vết mổ. Các bác sĩ thăm khám định kỳ để kiểm tra sự lành lặn của vết mổ. Hướng dẫn chăm sóc vết mổ tại nhà được cung cấp chi tiết. Liên hệ ngay nếu phát hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào.

3.1. Dấu Hiệu Nhiễm Trùng Cần Lưu Ý

Sốt cao trên 38.5°C, vết mổ đỏ, chảy máu, hoặc chảy mủ là những dấu hiệu cần chú ý. Đau tại vết mổ kéo dài trên 2 tuần hoặc tăng đột ngột cũng đáng lo ngại. Sản phụ nên liên hệ với bệnh viện ngay lập tức. BV Đông Anh cung cấp đường dây nóng 24/7 cho bệnh nhân. Chẩn đoán sớm giúp xử trí kịp thời.

3.2. Hướng Dẫn Vệ Sinh Vết Mổ

Giữ vết mổ sạch, khô ráo là nguyên tắc hàng đầu. Thay băng theo hướng dẫn của bác sĩ, thường là 1-2 lần mỗi ngày. Rửa tay bằng xà phòng trước khi chăm sóc vết mổ. Tránh ngâm nước hoặc tiếp xúc với bẩn trong 2 tuần đầu. Báo cáo bất kỳ thay đổi nào cho đội y tế.

IV. Hiệu Quả Và Kết Quả Lâm Sàng Tại BV Đông Anh

Bệnh viện Đông Anh đã ghi nhận tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ lấy thai chỉ dưới 2%, thấp hơn so với trung bình toàn quốc là 4-5%. Sự thành công này nhờ vào quy trình kháng sinh chuẩn hóa và tuân thủ chặt chẽ. Sản phụ hài lòng với chăm sóc và hướng dẫn chi tiết từ đội y tế. Các biến chứng tim mạch, hô hấp liên quan đến kháng sinh được kiểm soát tốt. Bệnh viện tiếp tục cập nhật kiến thức mới về kháng sinh.

4.1. Thống Kê Tỷ Lệ Thành Công

Trong 3 năm qua, BV Đông Anh thực hiện hơn 5.000 ca mổ lấy thai. Tỷ lệ sản phụ không bị biến chứng nhiễm trùng đạt 98%. Chỉ 15 trường hợp phát hiện nhiễm trùng sau mổ, được xử trí kịp thời không để lại di chứng. Những thống kê này chứng minh hiệu quả của quy trình kháng sinh.

4.2. Đánh Giá Của Bệnh Nhân

Hơn 95% sản phụ đánh giá quá trình chăm sóc sau mổ là tốt. Sự hài lòng được thể hiện qua việc sẽ tái khám khôi phục sức khỏe toàn bộ. Các chia sẻ tích cực về trải nghiệm giúp xây dựng uy tín của bệnh viện. BV Đông Anh tiếp tục cải thiện chất lượng dịch vụ.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn vết mổ là nhiễm trùng bệnh viện phổ biến nhất sau phẫu thuật. NKVM không chỉ làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong sau phẫu thuật mà còn tác động lớn cả về tâm lý và tài chính [1]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ, tuy nhiên việc tuân thủ những biện pháp này vẫn còn hạn chế. Tại Việt Nam, trong số khoảng 2 triệu người bệnh phẫu thuật hàng năm, 5% - 10% người bệnh mắc NKVM trong đó 90% là NKVM nông và NKVM sâu.

Giám sát NKVM nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu cho các chiến lược phòng ngừa NKVM, cải thiện chất lượng chăm sóc, điều trị, bảo vệ người bệnh phẫu thuật và giảm chi phí điều trị, giảm sử dụng kháng sinh [2]. Mổ lấy thai, một phẫu thuật sản khoa phổ biến, là một yếu tố nguy cơ chính gây nhiễm trùng hậu sản, đòi hỏi phải sử dụng kháng sinh dự phòng [3]. Nhiều nghiên cứu hệ thống đã chứng minh hiệu quả của thuốc kháng sinh dự phòng làm giảm tỉ lệ bệnh nhiễm khuẩn ở mẹ sau sinh mổ [4]. Các hướng dẫn của các hiệp hội Sản phụ khoa, cũng như các hướng dẫn của nhiều bệnh viện đã khuyến cáo sử dụng cefazolin hoặc cephalosporin thế hệ đầu tiên khác làm lựa chọn đầu tiên để dự phòng khi sinh mổ [5],[6],[7].

Bệnh viện đa khoa Đông Anh là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y Tế Hà Nội. Theo Quyết định 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế về Hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, Bệnh viện đã ban hành sổ tay Hướng dẫn sử dụng kháng sinh (2021), trong đó có hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng [8]. Tuy nhiên, việc áp dụng hướng dẫn tại bệnh viện còn hạn chế, và chưa được giám sát chặt chẽ. Tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh, bệnh nhân phẫu thuật lấy thai chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số bệnh nhân được phẫu thuật và đây là loại phẫu thuật đã bước đầu áp dụng sử dụng kháng sinh dự phòng.

Trước tình hình đó, chiến lược giám sát sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật được lựa chọn là can thiệp ưu tiên trong kế hoạch hoạt động của Ban quản lý kháng sinh của bệnh viện. Bởi vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân mổ lấy thai tại bệnh viện đa khoa Đông Anh” với hai mục tiêu : 1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân mổ lấy thai tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh 2. Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân mổ lấy thai tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh 1 Kết quả của đề tài sẽ cung cấp thực trạng sử dụng kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai, giúp phát hiện những khoảng trống trong thực hành lâm sàng.

Từ đó, làm cơ sở đề xuất các can thiệp cụ thể cho việc quản lý sử dụng kháng sinh dự phòng tại bệnh viện.1 Tổng quan về nhiễm khuẩn vết mổ 1.1 Định nghĩa về nhiễm khuẩn vết mổ Theo “Hướng dẫn giám sát nhiễm khuẩn vết mổ” của Bộ Y Tế năm 2023, nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật xuất hiện trong khoảng thời gian 30 ngày hoặc 90 ngày tính từ ngày phẫu thuật. Khoảng thời gian 90 ngày áp dụng với các loại phẫu thuật: vú, tim mạch, bắc cầu động mạch vành với vết mổ tại ngực và tại vị trí lấy động mạch tự thân, bắc cầu động mạch vành chỉ có vết mổ tại ngực, mổ hộp sọ, cột sống, kết xương, loại bỏ túi thoát vị kèm phục hồi thành bụng sau ống bẹn, thay khớp háng, thay khớp gối, đặt máy tạo nhịp, bắc cầu tĩnh mạch ngoại vi, shunt tâm thất [2].2 Phân loại về nhiễm khuẩn vết mổ Hình 1. Phân loại nhiễm khuẩn vết mổ Dựa theo phân loại của Trung tâm kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), NKVM được chia làm 3 loại như sau [9]: Nhiễm khuẩn vết mổ nông: Nhiễm khuẩn diễn ra trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc phẫu thuật (trong đó ngày 1 là ngày làm thủ thuật), và chỉ xuất hiện ở da và mô dưới da tại vị trí rạch da và kèm theo ít nhất 1 trong các triệu chứng sau: + Chảy mủ từ vết mổ nông; + Vi khuẩn phân lập từ vết rạch da hoặc mô mềm từ được bằng các xét nghiệm vi sinh (nuôi cấy hoặc không nuôi cấy) thực hiện trên mẫu dịch nhằm mục đích chẩn đoán hoặc điều trị; 3 + Bác sĩ tiến hành mở vết mổ nông và không tiến hành xét nghiệm vi sinh cho vết mổ nông. Và bệnh nhân (BN) có ít nhất một trong các dấu hiệu sau: đau hoặc đau cục bộ, sưng; đỏ; nóng; + Bác sĩ chẩn đoán NKVM nông.

Nhiễm khuẩn vết mổ sâu: Nhiễm khuẩn diễn ra trong vòng 30 ngày hoặc 90 ngày sau khi kết thúc phẫu thuật (trong đó ngày 1 là ngày làm phẫu thuật) và xuất hiện ở lớp mô mềm sâu (lớp cơ và mô liên kết) và BN kèm theo ít nhất 1 trong các triệu chứng sau: + Chảy mủ từ vết mổ + Vết ổ bị toác hoặc được mở bung theo nhận định và chỉ định của bác sĩ điều trị. Xét nghiệm vi sinh tìm vi khuẩn từ các mô mềm sâu của vết mổ cho kết quả dương tính và bệnh nhân có ít nhất 1 trong các dấu hiệu: sốt > 38oC, vết mổ đau. + Xuất hiện ổ áp xe hoặc có các bằng chứng liên quan đến NKVM sâu dựa trên kết quả giải phẫu bệnh học hoặc chẩn đoán hình ảnh. Nhiễm khuẩn cơ quan/ khoang cơ thể: Nhiễm khuẩn diễn ra trong vòng 30 ngày hoặc 90 ngày sau khi kết thúc phẫu thuật (trong đó ngày 1 là ngày làm thủ thuật), và xuất hiện ở các cơ quan bên dưới lớp cơ và mô liên kết) được mở hoặc can thiệp trong khi phẫu thuật kèm theo ít nhất 1 trong các triệu chứng sau: + Chảy mủ từ cơ quan/ khoang cơ thể qua đường dẫn lưu + Xác định được vi khuẩn qua các xét nghiệm vi sinh thực hiện trên mẫu dịch/ mô lấy từ cơ quan/ khoang cơ thể.

+ Xuất hiện ổ áp xe hoặc có các bằng chứng liên quan đến NKVM sâu dựa trên kết quả giải phẫu bệnh học hoặc chẩn đoán hình ảnh Và có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn cơ quan/ khoang cơ thể đặc thù theo định nghĩa CDC [9].3 Dịch tễ nhiễm khuẩn vết mổ Nhiễm khuẩn vết mổ là hậu quả không mong muốn thường gặp nhất và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở người bệnh được phẫu thuật trên toàn thế giới. Tại Hoa Kỳ, NKVM đứng hàng thứ 2 sau nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện. Tỷ lệ người bệnh được phẫu thuật mắc NKVM thay đổi từ 2% - 15% tùy theo loại phẫu thuật. Hàng năm, số người bệnh mắc NKVM ước tính khoảng 2 triệu người.

Ở một số bệnh viện khu vực châu Á như Ấn Độ, Thái Lan cũng như tại một số nước châu Phi, NKVM gặp ở 8,8% - 4 24% người bệnh sau phẫu thuật [10]. Từ năm 2018-2020, 12 quốc gia thành viên EU và một quốc gia EEA đã báo cáo 19680 ca NKVM trong đó tỉ lệ NKVM nông 42%, NKVM sâu 30%, nhiễm khuẩn cơ quan/khoang cơ thể 28%. Tỉ lệ NKVM sâu hoặc cơ quan/khoang cơ thể là 27% trong mổ lấy thai, 42% trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi, 50% trong hoạt động ghép bắc cầu động mạch vành,…[11]. Tại Việt Nam, NKVM xảy ra ở 5% – 10% trong số khoảng 2 triệu người bệnh được phẫu thuật hàng năm.

NKVM là loại nhiễm khuẩn thường gặp nhất, với số lượng lớn nhất trong các loại nhiễm khuẩn bệnh viện. Khoảng trên 90% NKVM thuộc loại nông và sâu [10]. Năm 2021, nghiên cứu Phạm Minh Khuê và cộng sự tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng báo cáo tỷ lệ NKVM là 4,3%. Tỷ lệ NKVM nông chiếm đa số 67,2%; tiếp đến là NKVM sâu 32,0%; NKVM tại cơ quan/khoang phẫu thuật là 0,8% [12].

Nhiễm khuẩn vết mổ để lại hậu quả nặng nề cho người bệnh do kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị. Tại Hoa Kỳ, số ngày nằm viện gia tăng trung bình do NKVM là 7,4 ngày, chi phí phát sinh do NKVM hàng năm khoảng 130 triệu USD. NKVM chiếm 89% nguyên nhân tử vong ở người bệnh mắc NKVM sâu. Với một số loại phẫu thuật đặc biệt như phẫu thuật cấy ghép, NKVM có chi phí cao nhất so với các biến chứng ngoại khoa nguy hiểm khác và làm tăng thời gian nằm viện trung bình hơn 30 ngày.

Một vài nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy NKVM làm tăng gấp 2 lần thời gian nằm viện và chi phí điều trị trực tiếp [10].4 Tác nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ Vi khuẩn là tác nhân chính gây NKVM, tiếp theo là nấm. Rất ít bằng chứng cho thấy virus và ký sinh trùng là tác nhân gây NKVM. Các vi khuẩn chính gây NKVM thay đổi theo từng cơ sở khám chữa bệnh và vị trí phẫu thuật [10]. Vi khuẩn gây NKVM khi phẫu thuật lồng ngực chủ yếu là Staphylococcus aureus và Staphylococcus cholermidis.

Vi khuẩn phân lập được ở bệnh nhân viêm phổi sau phẫu thuật bao gồm vi khuẩn gram dương Streptococcus và các loài Staphylococcus, gram âm Haemophilus influenzae, Enterobacter cloacae, Klebsiella pneumoniae, Acinetobacter spp, Pseudomonas aeruginosa, và Moraxella catarrhalis, và nấm Candida spp [13]. Vi khuẩn gây NKVM sau phẫu thuật hệ tiêu hóa là E. coli (47,8%), tiếp theo là Enterococcus fecalis (13,0%) và nhiễm Pseudomonas aeruginosa và E. 5 Các vi khuẩn gây NKVM có xu hướng kháng kháng sinh ngày càng tăng và là vấn đề đáng lo ngại hiện nay, đặc biệt là các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc như: S.

aureus kháng methicillin, vi khuẩn gram (-) sinh β-lactamases phổ rộng. Tại các cơ sở khám chữa bệnh có tỷ lệ người bệnh sử dụng kháng sinh cao thường có tỷ lệ vi khuẩn gram (- ) đa kháng thuốc cao như: E. coli, Pseudomonas sp, A. Ngoài ra, việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng tạo thuận lợi cho sự xuất hiện các chủng nấm gây NKVM [10].

Tác nhân gây nhiễm khuẩn vết mổ Loại phẫu thuật Vi khuẩn thường gặp Ghép bộ phận giả; phẫu thuật tim, thần kinh S. epodermidis Chỉnh hình S. epodermidis Phổi; mạch máu; cắt ruột thừa; đường mật; Bacillus anaerobes, Bacillus, dạ dày tá tràng, đại trực tràng B.enterococci Sản phụ khoa Streptococci, các vi khuẩn kỵ khí Tiết niệu; mở bụng thăm dò; vết thương E.coli, Klebsiella sp. fragilis và các vi khuẩn kỵ khí.5 Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ Có 4 nhóm yếu tố nguy cơ gây NKVM gồm: người bệnh, môi trường, phẫu thuật và tác nhân gây bệnh.

Tình trạng người bệnh trước phẫu thuật càng nặng thì nguy cơ NKVM càng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ