Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về kháng nghị phúc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính Việt Nam. Thực tiễn thực hiện quy định của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm và kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa kháng nghị phúc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính Việt Nam 1. Khái niệm Kháng nghị phúc thẩm các vụ án nói chung và vụ án hành chính nói riêng là một hoạt động thể hiện rõ quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân, là một trong các cơ sở làm phát sinh thủ tục kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính. Vì thế, việc hiểu một cách thống nhất và chính xác nhất về khái niệm kháng nghị phúc thẩm là hết sức cần thiết trong khoa học nghiên cứu về kháng nghị phúc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính Việt Nam. Theo Từ điển Tiếng việt thì “kháng nghị được hiểu là sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức”2 hay “kháng nghị là bày tỏ ý kiến để phản đối một việc gì”3.
Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì “kháng nghị có thể được hiểu là sự bày tỏ quan điểm phản đối, chống đối về một vấn đề, một ý kiến gì đó bất kì mà chủ thể kháng nghị cho rằng vấn đề đó, ý kiến đó là sai lầm”4. Như vậy, theo các từ điển này thì có thể hiểu một cách chung nhất kháng nghị là sự phản đối, chống lại hay không đồng ý với một quyết định nào đó. Theo từ điển Luật học thì “kháng nghị là việc người có thẩm quyền bằng văn bản của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm làm cho vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật”5. Với cách giải thích này, kháng nghị phúc thẩm đã thể hiện một số đặc điểm như chủ thể của kháng nghị là người có thẩm quyền, đối tượng của kháng nghị là các bản án, quyết định của Tòa án, hình thức của kháng nghị là bằng văn bản, mục đích của kháng nghị là làm cho vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu bật được tính chất của phúc thẩm vụ án hành chính là xét xử lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nên chúng ta không thể thừa nhận đây là khái niệm chính thức và toàn diện. Có phần tương tự, thuật ngữ pháp 2 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr. 3 Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển Tiếng việt, tái bản lần thứ V, Nxb Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 4 Nguyễn Lân (1988), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
5 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 7 lý cũng nêu“Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án”.6 Trong khái niệm này, kháng nghị phúc thẩm cũng chỉ dừng lại ở một số đặc điểm mà khái niệm trong từ điển Luật học đề cập nên chúng ta cũng không thể thừa nhận nó là khái niệm chính thức. Nhìn chung, khái niệm trong các từ điển chỉ một phần thể hiện được các đặc điểm của kháng nghị nói chung, mà chưa thể hiện rõ ràng và cụ thể về bản chất, đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính nói riêng. Bởi lẽ, các khái niệm trên đều không làm rõ được đối tượng của kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính là bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật hay đã có hiệu lực pháp luật, chưa đề cập được căn cứ kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính, không phân biệt được kháng nghị phúc thẩm với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hành chính và kháng nghị phúc thẩm theo các thủ tục tố tụng khác; chủ thể của kháng nghị nêu chung chung là “người có thẩm quyền” mà không thể hiện rõ chủ thể duy nhất có quyền kháng nghị phúc thẩm là Viện Kiểm sát.
Trên phương diện khoa học pháp lý, cho đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu và đề cập trực diện về khái niệm kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính. Do đó, việc tiếp cận khái niệm này gặp phải những khó khăn nhất định. Ở khía cạnh chung, tác giả Đinh Văn Quế cho rằng “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng luật”7. Ở quan điểm này, tác giả đã nhìn nhận và nêu rõ hình thức của kháng nghị phúc thẩm là “một văn bản” và chủ thể của kháng nghị phúc thẩm vụ án là Viện kiểm sát.
Đồng thời, tác giả cũng nêu rõ cơ quan có thẩm quyền xét xử lại vụ án khi có kháng nghị là Tòa án cấp phúc thẩm. Thế nhưng nhìn một cách bao quát, khái niệm trên lại chưa thể hiện được đối tượng của kháng nghị là bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật. Thêm vào đó, khái niệm cũng chưa nêu được toàn diện các căn cứ của kháng nghị phúc thẩm, nghĩa là khái niệm mới chỉ đề cập về căn cứ kháng nghị liên quan đến việc Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm về mặt hình thức “không đúng pháp luật” mà không đề cập đến những vi phạm về mặt nội dung của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.vn/tnpl/2684/Khang-nghi?tab=1, truy cập ngày 11/4/2022. 7 Đinh Văn Quế (2018), “Kháng nghị phúc thẩm – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Kiểm sát, (số 5), tr.
8 Tác giả Lê Thành Dương có cách tiếp cận kháng nghị phúc thẩm vụ án từ góc độ quyền năng pháp lý riêng của Viện kiểm sát“Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời”. Hay tác giả Nguyễn Việt Phương lại cho rằng “Kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính là quyền và nghĩa vụ của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện bằng văn bản pháp lý được tiến hành trong thời hạn và theo thủ tục luật định, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đó không đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp”8. Nhìn trên góc độ, đối chiếu, tổng hợp, quan điểm của hai tác giả trên đều có những tương đồng với nhau về một số nội dung nổi bật của kháng nghị phúc thẩm như đối tượng của kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, chủ thể của kháng nghị phúc thẩm là Viện kiểm sát, căn cứ của kháng nghị là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đó sai lầm về căn cứ (về nội dung) hoặc không đúng pháp luật (tính hợp pháp), hình thức của kháng nghị là một văn bản pháp lý, Tòa án có thẩm quyền xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm khi có kháng nghị là Tòa án cấp phúc thẩm. Đây cũng chính là các quan điểm được đông đảo tác giả ủng hộ và thừa nhận, do tiếp cận kháng nghị từ góc độ là một nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát.
Tựu chung lại, tuy các quan điểm khoa học nêu trên có những cách tiếp cận khác nhau nhưng các quan điểm đều đồng nhất thừa nhận một số đặc trưng cơ bản của kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính gồm chủ thể, đối tượng, thẩm quyền, hình thức, căn cứ, mục đích của kháng nghị phúc thẩm. Từ việc kết hợp các quan điểm đó, có thể đưa ra khái niệm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hành chính như sau:“Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hành chính là quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện bằng một văn bản pháp lý được tiến hành trong thời hạn luật định, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo trình tự phúc thẩm, do bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đó có vi phạm pháp luật tố tụng hành chính hoặc vi phạm pháp luật nội dung nhằm bảo đảm việc xét xử của Toà án luôn được đúng pháp luật, nghiêm minh, khắc phục và sửa chữa kịp thời”. 8 Nguyễn Việt Phương (2017), “Kháng nghị phúc thẩm quá hạn trong tố tụng hành chính”, Tạp chí Kiểm sát, (Số 05), tr. Đặc điểm Khi tìm hiểu, nghiên cứu về kháng nghị phúc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính Việt Nam có thể thấy những đặc trưng cơ bản của kháng nghị phúc thẩm gồm chủ thể kháng nghị, đối tượng kháng nghị, thẩm quyền, hình thức, căn cứ, mục đích của kháng nghị phúc thẩm vụ án hành chính.
Những đặc trưng này thể hiện bản chất, đặc trưng riêng nhằm phân biệt kháng nghị phúc thẩm với kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hành chính, cũng như các chế định khác trong tố tụng hành chính ở nước ta. Thứ nhất, chủ thể kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hành chính là Viện kiểm sát, chỉ có Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất có thẩm quyền kháng nghị, ngoài ra không còn bất kỳ cơ quan nào khác được thực hiện quyền này Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng ở Việt Nam nói chung và trong tố tụng hành chính nói riêng là quyền năng pháp lý duy nhất mà Nhà nước trao cho Viện kiểm sát.