Chương 1 NHỮNG DÒNG SÔNG GẮN VỚI NỀN VĂN MINH VĂN HÓA VIỆT 1.1 Việt Nam đất nước những dòng sông Nhìn lên bản đồ sông ngòi Việt Nam ta thấy ngay một mạng lưới sông ngòi dày đăc tất cả có đến 2360 con sông. Việt Nam có trên 3/4 diện tích là đồi núi và cao nguyên. Cấu tạo của chúng ảnh hưởng đối với mạng lưới sông ngòi, tuy cùng đổ ra Thái Bình Dương nhưng đường đi nhiều khê, nhiều ngả. Phần lớn núi đồi ở Việt Nam đều được cấu thành từ thời kỳ vận động tạo sơn Hymaylaya.
Hình thái của nhiều khối núi chia đi nhiều hướng, khiến sông suối cũng phải tuân theo, làm cho bản đồ đại lý nước ta không đơn diệu. Trải rộng trên địa hình phức tạp từ Bắc xuống Nam sông ngòi Việt Nam mang nhiều tính chất khác nhau, khi thì dòng chảy suôn sẻ khi thì uốn khúc quanh co, khi hiền hòa có khi dữ dội gây lụt lội. Miền Bắc có 2 hệ thống sông chính là hệ thống sông Thái Bình và hệ thống sông Hồng. Sông Thái Bình có các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu.
Sông Hồng còn gọi là Nhị Hà bắt nguồn từ Vân Nam, Trung Quốc mang nhiều phù sa bồi đắp thành một vùng đồng bằng phì nhiêu mang tên châu thổ Sông Hồng. Miền Trung chỉ có 2 con sông lớn là sông Mã và sông Cả. Các con sông khác đều ngắn vì núi ăn gần biển như sông Gianh (Phân chia đất nước thời Trịnh Nguyễn), sông Bến Hải chia đôi Việt Nam từ 1954- 1975, sông Hương (chảy qua thành phố Huế) nay còn di tích cố đô nhà Nguyễn. 10 Miền Nam cũng có 2 hệ thống sông chính là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long- Đồng Nai có các phụ lưu là sông La Ngà ở tả ngạn và hữu ngạn là sông Bé với thác Trị An hùng vĩ sông Sài Gòn và Vàm Cỏ.
Hướng chính của sông ngòi là hướng Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung, đồng thời đổ ra biển Đông, theo hướng của cấu trúc địa chất – địa hình. Tuy nghiên cũng có những ngoại lệ như hướng Đông Nam – Tây Bắc của sông Kỳ Cùng, của Nậm Sạp, Nậm Pan, Nậm Muội, Crông Knô. Trên cùng một dòng sông cũng có những khúc già khúc trẻ xen kẽ, điển hình nhất là các sông chảy trên cao nguyên xếp tầng như trường hợp của các sông Đa Đưng và Đa Nhim. Trong vùng núi mà phần lớn là các sông trẻ đang đào lòng dữ dội, thung lũng hẹp, có nơi là những hẻm vực, thì tồn tại cả những thung lũng già có bãi bồi, thêm đất, thuận tiện cho quần cư và khai thác nông nghiệp.
Hiện tại chỉ có suối nhỏ đang chảy ở đó, còn sông lớn tạo ra thung lũng đã dịch chuyển đi, như đoạn thung lũng của sông Kỳ Cùng từ Lạng Sơn đến Nà Sầm, đoạn thung lũng cũ của sông Hồng từ Bát Xát đến Cam Đường. Nhiều sông có những khúc chuyển hướng đột ngột gần như thẳng góc bằng chứng của những sự cướp dòng như khuỷu Thất Khê trên sông Kỳ Cùng, như đoạn Xiền Lâm- Cửa Rào trên sông Cả, như khúc ngoặt Đa Crông trên sông Thạch Hãn, hoặc khúc ngoặt trên sông La Ngà khi chảy từ cao nguyên Di Linh xuống Đông Nam Bộ. Tất cả những đặc điểm ấy phản ánh tính chất già trẻ lại và tính chất phân bậc của địa hình của đồi núi nước ta. Sông chảy qua vùng đá diệp thạch thường có thung lũng rộng, thoải và đối xứng, còn cùng đá vôi thì sườn cao, vách đứng.
Cũng do độ cứng khác nhau của đá mà khi qua vùng đá rắn thường lắm thác ghềnh như thác Bà trên sông Chảy, thác Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng, thác Pông Gua trên sông Đa Nhim. Mật độ sông ngòi ở những vùng đá vôi thuộc loại thấp nhất, dưới 0,5 km/km2, đồng thời lượng dòng chảy mặt giảm rõ rệt. Vùng đá Bazan có lớp vỏ phong hóa này khả năng 11 thấm nước lớn cũng làm giảm dòng chảy, mật độ sông suối cũng thưa dưới 0,5km. Ở Việt Nam, sông ngòi có lưu lượng bình quân tới 26000m3/s tương đương với tổng lượng lượng nước là 839 tỷ m3/năm chia cho diện tích được 2,5 triệu m3/km2.
Trong tổng lượng nước này phần được sinh ra trên lãnh thổ nước ta chỉ được 338 tỷ m 3/ năm chiếm khoảng 40,3% cong phần từ nước ngoài chảy vào lên tới 501 tỷ m3/ năm chiếm 59,7% trong đó tuyệt đại bộ phận là qua sông Cửu Long (451 tỷ chiếm 90% dòng chảy từ ngoài vào và 54% tổng lượng nước). Ngoài ra có 1% tổng lượng nước từ Việt Nam chảy ra bên ngoài khoảng 8,9 tỷ m3/năm. Như vậy với một mạng lưới 2360 con sông một tổng lượng nước 839 tỷ m3/năm và 200 triệu tấn phù sa/năm, nước ta quả là có một mạng lưới sông ngòi dày đặc nhiều nước nhiều phù sa. Nhưng đáng chú ý hơn là mạng lưới sông ngòi ấy phân phối rất chênh lệch trong năm mùa lũ trung bình chiếm 70- 80% tổng lượng nước năm, hơn nữa lại còn thất thường từ năm này qua năm khác có năm lũ lớn gây vỡ đê ở nhiều nơi, có năm nước cạn kiệt vào mùa khô thiếu hụt so với nhu cầu sinh hoạt và tưới cây.
Do đó, việc tìm hiểu nhịp điệu mùa của thủy chế các sông ngòi cùng với đặc điểm của từng khu vực thủy văn riêng biệt là rất cần thiết. Về diện tích lưu vực và mật độ sông: Có 3 khu vực rõ rệt - Khu vực từ thung lũng sông Cả trở lên phía Bắc, nhất là ở Bắc Bộ, nơi đất nước ta rộng lớn nhất có các hệ thống sông dài với lưu vực lớn diện tích trên 10000km2 và chiều dài trên 200 km (Bằng Giang – Kỳ Cùng 10902 km2 dài 243km; sông Thái Bình 12680km2 dài 288km). Đặc biệt là các sông duyên hải Quảng Ninh do núi ra sát biển. 12 - Khu vực thứ 2: sườn đông dải Trường Sơn từ bắc chí nam với các đồng bằng ven biển nhỏ hẹp chỉ có những hệ thống sông ngắn và lưu vực nhỏ nằm hoàn toàn trong lãnh thổ nước ta.
Diện tích lưu vực từ 1000-5000km 2, dài từ 70-170km, đặc biệt là sông Thu Bồn (diện tích 10350km2, dài 205km) do vùng Quảng Nam tương đối rộng như sông Gianh 4680 km2, dài 158km; sông Quảng Trị 2660km2 dài 156km… - Khu vực thứ 3 sườn Tây Trường Son bao gồm Tây Nguyên và Nam Bộ, lại có những lưu vực sông tương đối lớn, có cả sông đổ về sông Mê Kông góp phần đưa nước về vùng cửa sông ở Tây Nam Bộ và sông đổ ra biển Đông qua vùng Đông Nam Bộ. Đó là lưu vực sông Xrê Pốc (bao gồm các sông bắc và Trung Tây Nguyên) 30110km2 dài 315km; lưu vực sông Đồng Nai – Vàm Cỏ 37400km2 dài 635km. Nói về chế độ thủy văn thì khu vực đồng bằng Bắc Bộ là có chế độ thủy văn phù hợp với đặc điểm khí hậu của vùng. Với mạng lưới sông ngòi khá dày đặc vừa bao gồm hạ lưu và chi lưu của hai hệ thống sông lớn đổ ra biển là sông Hồng và sông Thái Bình vừa bao gồm các con sông nhỏ là cho tổng lượng nước dòng chảy của đồng bằng Bắc Bộ khá lớn phục vụ đắc lực cho cuộc sống con người nơi đây.
Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa với hai mùa khô và mưa, chế độ thủy văn ở đây có hai mùa rõ rệt. Mùa cạn, dòng chảy nhỏ nước trong ít phù sa. Mùa lũ dòng chảy lớn nhiều phù sa. Trong quá trình hoạt động, dòng chảy sông Hồng vận chuyển nhiều phù sa và đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ dòng chảy lượng nước và phù sa vào các nhánh sông con và sông Thái Bình.
Tuy nhiên, tại các vùng duyên hải ven vịnh Bắc Bộ, các dòng chảy chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều mà điều này đã được cha ông ta tận dụng để giành thế chủ động trong cuộc chiến thắng Bạch Đằng hùng vĩ thửơ 13 nào. Ngoài ra, ảnh hưởng này rất có lợi trong việc khai thác tiềm năng du lịch của vùng vì có thể hoạt động quanh năm. Hầu hết sông ngòi của đồng bằng Bắc Bộ chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và chảy ra biển Biển Đông, chúng đem theo phù sa bồi đắp đồng bằng và trở thành những con đường nước nối liền các miền với nhau. Như vậy, sông ngòi Bắc Bộ tuy chảy khắp các vùng nhưng không tách biệt riêng rẽ mà luôn gắn liền với nhau bởi một hay nhiều chi lưu nhỏ.
Điều này làm ta liên tưởng tới một sự kết hợp bền vững, một tình yêu thương đoàn kết, máu chảy ruột mềm giữa các dân tộc anh em ở các vùng nhỏ nói riêng hay nhân dân Việt Nam nói chung. Không những chỉ có tình cảm về mặt tình cảm, sự liên kết chặt chẽ của các con sông nơi đây đã tạo ra sự khác biệt riêng của vùng, tạo ra sự đa dạng của vùng sông nước và là cơ sở để khai thác phục vụ du lịch. Sông Hồng, sông Mã, hai con sông mẹ của đất Việt cổ 1.1 Sông Hồng Sông Hồng là con sông giữ vị trí văn hóa vô cùng quan trọng không chỉ của riêng thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến mà còn cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài dòng chảy chính đi qua Hà Nội, sông Hồng còn nhiểu chi lưu làm nên một châu thổ trù phú: đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Do tính chất quan trọng của con sông trong đời sống cộng dồng dân cư, mỗi một tên gọi của nó đều ít nhiều phản ánh vết tích văn hóa của những chủ nhân của nó đã để lại. Sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Nguy Sơn, thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Khi chảy qua lãnh thổ Việt Nam, nó bắt đầu ở Hà Khẩu qua Lào Cai, Yên Bái rồi Việt Trì, Hà Nội và đổ ra biển qua cửa Ba Lạt. Khi vào Việt Nam, sông Hồng còn nhiều tên gọi khác nhau, đoạn từ Lào Cai đến Việt Trì gọi là sông Thao, đoạn từ Vĩnh Tường đến Yên Lạc qua 14 đất Tam Đái gọi là sông Tam Đái hay Tam Đới, sông Nhĩ Hà vì uốn cong như vành đai.Ngoài những tên gọi đó, sông Hồng còn có tên gọi dân gian là sông Cái, sông Mẹ.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, do sông Hồng có màu đỏ phù sa nên được gọi là Riveere Rouge tức là con sông có nước màu đỏ hồng. Đến thế kỷ XIX, tên gọi sông Hồng được sử dụng rộng rãi.