Tổng quan luận án

Văn học trung đại Việt Nam (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) hình thành và phát triển trong bối cảnh xã hội phong kiến, chịu sự chi phối sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo (quan niệm Tam giáo hỗn hợp) cùng hệ thống thi pháp văn học trung đại phương Đông. Lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức Nho sĩ. Trong một thời gian dài, ý thức hệ phong kiến với các chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt ("khắc kỷ phục lễ") đã khiến phương diện con người cá nhân, bản năng và khát vọng tính dục tự nhiên của con người bị kìm nén, xem nhẹ hoặc nhìn nhận như điều cấm kỵ. Gần đây, giới nghiên cứu văn học chuyển dịch mối quan tâm sang các giá trị nhân văn, khám phá hiện tượng văn học từ cội nguồn tâm lý, nền tảng văn hóa thời đại và sự vận động cảm xúc. Trong bối cảnh đó, vấn đề tính dục trở thành một đối tượng nghiên cứu mang tính cấp thiết. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: dù đã có những bài viết, luận văn tiếp cận yếu tố tính dục ở một số tác gia, tác phẩm riêng lẻ, song một công trình khoa học khảo sát có tính hệ thống, bao quát và khái quát hóa diện mạo vấn đề tính dục trên toàn bộ tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đóng góp một góc nhìn mới đối với nền văn học trung đại vốn bị chi phối bởi nhiều quy tắc ước lệ cổ điển; đồng thời giúp người quan tâm nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về các giá trị văn học đã được nghiên cứu trước đây.

Luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Thông qua việc thống kê, phân tích, nhận định, tiến hành khảo sát các công trình khoa học liên quan đến đề tài.
  2. Bằng việc tổng hợp tư liệu, lí giải khái niệm tính dục và các khái niệm tương cận, nghiên cứu cảm quan tính dục trong một số triết thuyết, điểm qua các tác phẩm chứa đựng yếu tố tính dục.
  3. Giải quyết vấn đề tính dục trong văn học trung đại ở bình diện nội dung: tính dục và con người cá nhân, tính dục – một phương thức phản ánh thực tại xã hội thời phong kiến, tính dục – một phương thức thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển.
  4. Tiếp tục nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học ở bình diện nghệ thuật: ngôn ngữ, không gian – thời gian, thủ pháp.
  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tính dục trong các sáng tác văn học trung đại Việt Nam.
  • Đối tượng khảo sát: Những tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (chữ Hán và chữ Nôm) có chứa đựng yếu tố tính dục.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các sáng tác văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX trong không gian văn hóa - xã hội phong kiến Đại Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam được tác giả luận án tổng thuật qua ba giai đoạn văn học sử và phân loại theo các nhóm tác giả, hệ hình nghiên cứu cụ thể:

Các nghiên cứu theo tiến trình văn học sử

  • Giai đoạn thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV: Công trình nghiên cứu trực tiếp còn ít. Trần Thị Băng Thanh (1999) là người đầu tiên khơi mào nhận định về vẻ đẹp nhân ái, tâm trạng phức tạp của người cung nữ qua 28 chữ trong bài thơ Khuê oán của Trần Nhân Tông. Kiều Thu Hoạch, Thích Phước An (1999) chú ý đến màu sắc trần tục, chất "mùi đời" trong thơ Thiền của Huyền Quang (1254–1340) qua các bài thơ vịnh mai, vịnh cúc và bài Xuân nhật tức sự, từ đó chỉ ra sự dung hòa giữa thiêng và tục của các nhà sư – thi sĩ.
  • Giai đoạn thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII:
    • Về Nguyễn Trãi: Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Hữu Sơn (1999) phân tích cảm hứng về tình yêu, tuổi trẻ và "tính người" trong bài thơ Cây chuối; Nguyễn Đình Chú, Xuân Diệu, Phạm Tú Châu, Mai Trân bình luận về nội dung tính dục của bài thơ; Tế Hanh, Cao Hữu Lạng chú ý đến bài Tích cảnh 10.
    • Về Nguyễn Dữ và tập Truyền kì mạn lục: Bùi Duy Tân (2001) phân tích tính chất phức tạp của tình yêu trong các truyện (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện Lệ Nương, Chuyện cây gạo, Truyện kì ngộ ở Trại Tây); Nguyễn Phạm Hùng (2001, dẫn ý kiến của Marian Tkachev) nhìn nhận các thiên truyện như bài ca về tình yêu nhục cảm dưới góc nhìn xã hội học; Vũ Thanh (2012) tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa, liên hệ với nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian đình chùa; Lê Trí Viễn (2001) ghi nhận sự cảm thông đối với khát vọng hạnh phúc trần tục.
  • Giai đoạn thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX:
    • Truyện thơ Nôm: Kiều Thu Hoạch (2007) khảo sát khát vọng hôn nhân tự do qua các truyện Chúa Kim và Thao Tín, Cúc Hoa và Tống Trân, Phạm Tải và Ngọc Hoa, Phạm Công và Cúc Hoa, Thoại Khanh và Châu Tuấn; Lê Trí Viễn (2001), Bùi Duy Tân (2001), Nguyễn Thị Nương nghiên cứu truyện Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào; Trần Đình Sử, Trần Đình Hượu (1998) phân tích sự điều hòa giữa tình yêu và lễ giáo trong Hoa tiên.
    • Về Truyện Kiều của Nguyễn Du: Nhóm Hoài Thanh, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê ca ngợi tình yêu lứa đôi; nhóm Phan Ngọc (nêu 4 đặc thù tình yêu, nhấn mạnh yếu tố ân ái thể xác), Đỗ Minh Tuấn, Phương Lựu chú ý đến yếu tố nhục cảm; Lê Trí Viễn (2001), Hoàng Hữu Yên (2011), Trần Nho Thìn phân tích cảm hứng nhân đạo; các ý kiến phong kiến phê phán gay gắt gồm Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng.
    • Thơ Nôm Hồ Xuân Hương: Tiếp cận xã hội học (Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, Đặng Thanh Lê 1999, Phạm Thị Thuận); Tiếp cận phân tâm học (Trương Tửu 1950, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đức Bính, Văn Tân, Trần Đình Sử 1997 giải thích qua xung năng libido và ẩn ức); Tiếp cận nguyên lý hội hóa trang carnavalesque của M. Bakhtin (N. Niculin, Đỗ Đức Hiểu, Tam Vị); Tiếp cận văn hóa học và tín ngưỡng phồn thực (Đỗ Thị Ngọc 1996, Đỗ Lai Thúy 1999).
    • Ngâm khúc và truyện truyền kì khác: Đặng Thai Mai (1978), Hà Như Chi (2000), Trần Đình Sử, Trần Đình Hượu (1998), Đinh Thị Khang, Phạm Luận (1989) nghiên cứu Chinh phụ ngâm khúc; Trần Nho Thìn (1997), Trần Thị Băng Thanh (1999), Nguyễn Lộc (1986), Thuần Phong (2007) nghiên cứu Cung oán ngâm khúc; Hoàng Hữu Yên (2011), Bùi Thị Thiên Thai (2011) nghiên cứu Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm.
    • Về Phạm Thái (Sơ kính tân trang): Trần Ngọc Vương (2018), Đỗ Lai Thúy (2015), Nguyễn Lộc (1999), Hoàng Hữu Yên (2011), Nghiêm Xuân Hồng (1961).
    • Về Nguyễn Công Trứ: Trần Nho Thìn (2003), Trần Hoa Lê, Trần Ngọc Vương (2018), Nguyễn Lộc (1999) phân tích triết lý hành lạc và yếu tố sắc dục.
Nhóm công trình / Tác giả Đối tượng khảo sát Hướng tiếp cận chính
Lê Thị Hoài Thu (2014) Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) Nội dung và hình thức sắc thái tính dục
Nguyễn Thanh Bình (2016) Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) Lý thuyết diễn ngôn đạo đức và tình yêu/tính dục
Lê Viết Thắng (2008) Truyện Kiều (Nguyễn Du) Thi pháp học và xã hội học về tình dục
Nguyễn Thị Ngọc Châu (2010) Thơ Nôm Hồ Xuân Hương Phương pháp so sánh - đối chiếu
Nguyễn Văn Hưng (2018) Văn học thế kỉ XVI – XIX Khảo sát "tiếng dâm" trong văn học trung đại

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Khắc phục sự phân mảnh, đơn lẻ của các nghiên cứu trước đó để xây dựng một cái nhìn tổng thể, hệ thống hóa và khái quát hóa sự vận động, biểu hiện của ý thức tính dục trong toàn bộ nền văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

Luận án dựa trên việc tổng hợp các khái niệm học thuật trong và ngoài nước:

  • Khái niệm tính dục: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1995) định nghĩa tính dục là đòi hỏi sinh lý về quan hệ tính giao; Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm (1994) xem là thú vui xác thịt giữa nam và nữ; Bùi Ngọc Oánh (2006) xác định tính dục là hiện tượng sinh vật – xã hội phức tạp. Luận án tiếp thu phân định của Phạm Quỳnh Phương (2013, dẫn Bremner và Illin, 1994) giữa tình dục (sex - hành vi quan hệ) và tính dục (sexuality - bao gồm hành vi, xu hướng tính dục, cảm xúc, quan hệ xã hội, khía cạnh chính trị, giới tính sinh học, thể hiện giới); quan điểm của Véronique Mottier (2016) về tính dục chịu sự định hình của động lực xã hội và cấu trúc quyền lực.
  • Phái tính và sinh sản: Luận án làm rõ tính dục có sự phân lập nhất định với khả năng sinh sản thuần túy; dẫn quan niệm của Aristote về nam tính (mô thể, chủ động) và nữ tính (chất thể, thụ động); tiếp thu quan điểm văn hóa học của Trần Ngọc Thêm về nhận thức duy trì nòi giống của cư dân nông nghiệp.
  • Cảm quan tính dục trong các hệ tư tưởng:
    • Nho giáo: Thiết lập trật tự đạo đức danh giáo, đề cao tư tưởng cấm dục, tiết chế bản năng, biến văn chương thành công cụ giáo huấn thuần túy, xa rời hiện thực sinh động.
    • Đạo giáo (Lão - Trang): Dựa trên Đạo đức kinh (Lão Tử), Nam Hoa kinh (Trang Tử) với thuyết Vô vi, sự hòa hợp âm dương. Vận dụng thuật dưỡng sinh "Phòng trung thuật" (các tên gọi khác: Nam nữ hợp khí thuật, Hỗn khí pháp, Âm đạo, Hoàng xích đạo), quan niệm của Tôn Tư Mạc (ví tinh dịch như dầu trong đèn), sách Tố nữ kinh (quy định chu kỳ tiết dục theo độ tuổi: 20 tuổi 4 ngày/lần, 30 tuổi 8 ngày/lần, 40 tuổi 16 ngày/lần, 50 tuổi 20 ngày/lần, 60 tuổi bế tinh) và nhận định của Khanh Hi Thái (1996) để khẳng định Đạo giáo chủ trương tiết dục để dưỡng sinh chứ không diệt dục.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thực hiện bằng phương pháp định tính chuyên ngành nghiên cứu văn học:

  1. Phương pháp văn học sử: Nhìn nhận quá trình biểu hiện và vận động của ý thức tính dục trong tiến trình 10 thế kỷ văn học trung đại.
  2. Phương pháp hệ thống: Hệ thống hóa các quan điểm, biểu hiện của tính dục trong toàn bộ sáng tác văn học cổ điển.
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu tác phẩm văn học với các tư liệu nhân chủng học, văn hóa học, tôn giáo, triết học để tìm mối tương quan giữa bối cảnh thời đại và biểu hiện tính dục.
  4. Phương pháp tiếp cận theo hướng thi pháp học: Làm sáng tỏ các đặc điểm, tín hiệu nghệ thuật mang màu sắc tính dục về ngôn ngữ, không gian, thời gian, thủ pháp.
  5. Phương pháp tiểu sử: Soi sáng mối liên hệ giữa cuộc đời tác giả với bản chất tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu văn bản bao gồm các tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm tiêu biểu từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX: Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp), thơ văn Nguyễn Trãi, Tiết Trai thi tập (Lê Thiếu Dĩnh), Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông và tập thể tác giả), Hồng Đức quốc âm thi tập, Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào), Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự, Vũ Đãi Vấn), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Sơ kính tân trang (Phạm Thái), thơ ca Nguyễn Công Trứ, cùng hệ thống truyện thơ Nôm tài tử giai nhân và truyện Nôm bình dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam

Chương 1 tiến hành khảo sát có hệ thống toàn bộ lịch sử nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn chương trung đại Việt Nam theo hai trục: tiến trình văn học sử và trục thể loại/tác giả trọng điểm. Luận án phân tích chi tiết các kết quả đạt được từ các thế hệ học giả đối với từng giai đoạn lịch sử (thế kỉ X–XIV, thế kỉ XV–XVII, thế kỉ XVIII–XIX). Đồng thời, chương này tổng kết các hệ hình tiếp cận lý thuyết đã được áp dụng trong quá khứ như: xã hội học văn học, phân tâm học Freud, thi pháp học thể loại, lý thuyết văn hóa dân gian/tín ngưỡng phồn thực, nguyên lý hội hóa trang và lý thuyết nữ quyền. Luận điểm rút ra từ chương này khẳng định: tính dục là hiện tượng khách quan có mặt trong nhiều danh tác trung đại, tuy nhiên đa số công trình trước đây chỉ dừng lại ở phạm vi phân tích một tác phẩm đơn lẻ, nhận định tản mạn hoặc nhìn nhận dưới lăng kính đạo đức truyền thống mà chưa có công trình khái quát hóa vấn đề trên toàn cục lịch sử văn học.

Chương 2: Một số vấn đề lí luận về tính dục

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết nền tảng và phác thảo diễn trình lịch sử của vấn đề tính dục. Về mặt lý luận, chương làm rõ nội hàm thuật ngữ tính dục (sexuality), phân biệt với tình dục (sex), chỉ ra mối quan hệ giữa phái tính, bản năng sinh học với các điều kiện văn hóa, xã hội và chính trị. Chương đi sâu phân tích cơ sở triết học phương Đông tác động đến tính dục: sự kìm nén, giáo hóa của ý thức hệ Nho giáo đối lập với quan niệm điều hòa âm dương, thuật tiết dục dưỡng sinh (phòng trung thuật, Tố nữ kinh) của Đạo giáo.

Về mặt diễn trình văn học sử, chương khảo sát sự phát triển của yếu tố tính dục qua ba chặng đường:

  • Giai đoạn X–XIV: Khởi đầu với sự phản ánh phóng túng quan hệ nam nữ trong Truyện Hà Ô Lôi (Lĩnh Nam chích quái), cảm xúc thương cảm người cung nữ trong thơ Trần Nhân Tông và phong vị trần thế trong thơ Thiền Huyền Quang.
  • Giai đoạn XV–XVII: Tính dục bộc lộ rõ nét qua cảm xúc tình tứ của Nguyễn Trãi (Cây chuối, Tích cảnh 10), đề tài cung oán trong Cung từ của Lê Thiếu Dĩnh, yếu tố nhục cảm trong Thánh Tông di thảo (Chuyện Tinh chuột), thơ tình trong Hồng Đức quốc âm thi tập, và đỉnh cao là 10 truyện chứa yếu tố tính dục trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
  • Giai đoạn XVIII–XIX: Giai đoạn phát triển vượt bậc với truyện thơ Nôm (Song Tinh, Hoa tiên, Truyện Kiều), các khúc ngâm bi thương (Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Quả phụ ngâm), truyện truyền kì của tác giả nữ (Truyền kì tân phả), thơ Nôm ngợi ca phồn thực của Hồ Xuân Hương, tác phẩm tự truyện lãng mạn Sơ kính tân trang của Phạm Thái và thơ ca hành lạc sắc dục của Nguyễn Công Trứ.

Chương 3: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam về phương diện nội dung

Chương 3 triển khai ba luận điểm trọng tâm về giá trị nội dung tư tưởng của hiện tượng tính dục:

  1. Tính dục gắn liền với sự thức tỉnh của con người cá nhân: Yếu tố tính dục là biểu hiện trực tiếp của nhu cầu bản năng, khát vọng tự do luyến ái vượt ra ngoài khuôn mẫu lễ giáo phong kiến "nam nữ thụ thụ bất thân", khẳng định quyền sống của con người trần thế.
  2. Tính dục như một phương thức phản ánh thực tại xã hội thời phong kiến: Miêu tả sự tha hóa, trụy lạc của giai cấp thống trị (quan lại, vua chúa); đồng thời phơi bày bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phụ quyền (người cung nữ bị giam cầm thanh xuân, người chinh phụ chịu cảnh phòng không gối chiếc, người phụ nữ tài sắc bị biến thành món hàng dục vọng).
  3. Tính dục như một phương thức thể hiện tư tưởng thẩm mỹ và chủ nghĩa nhân đạo: Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với nỗi đau thân xác và tinh thần của con người; ngợi ca vẻ đẹp nhan sắc, sự hòa hợp lứa đôi và khẳng định hạnh phúc ái ân trần tục là một giá trị nhân văn chính đáng.

Chương 4: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam về phương diện nghệ thuật

Chương 4 phân tích các phương thức, phương tiện nghệ thuật biểu đạt tính dục:

  • Phương diện ngôn ngữ: Sự kết hợp đa dạng giữa hệ thống ngôn ngữ ước lệ, tượng trưng, tao nhã của văn học cung đình với ngôn ngữ khẩu ngữ bình dân, nghệ thuật chơi chữ, lối nói hai nghĩa, thủ pháp đố tục giảng thanh mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian (đặc biệt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương).
  • Phương diện không gian và thời gian nghệ thuật: Xây dựng không gian phòng the kín đáo, không gian mộng ảo, không gian lễ hội giải phóng bản năng; đối lập với không gian cung cấm tù hãm. Thời gian nghệ thuật là thời gian tâm trạng khắc khoải, cảm thức thời gian xuân thì trôi mau, tuổi trẻ ngắn ngủi thúc bách nhu cầu được hưởng hạnh phúc yêu đương.
  • Các thủ pháp nghệ thuật: Sử dụng thủ pháp biểu tượng hóa các bộ phận cơ thể và hành vi tính giao; ẩn dụ, hoán dụ thiên nhiên; thủ pháp trào tiếu giải thiêng; kết hợp giữa yếu tố kỳ ảo và yếu tố hiện thực trong việc miêu tả các cuộc ân ái giữa người phàm và thế giới thần tiên, ma quái trong truyện truyền kì.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa khung lý thuyết về tính dục trong nghiên cứu văn học trung đại, chỉ ra mối liên hệ tương hỗ giữa các triết thuyết phương Đông (đặc biệt là Đạo giáo và Nho giáo) với cảm quan nghệ thuật của nhà văn cổ điển; cung cấp cách nhìn nhận biện chứng về sự dung hòa giữa tính thiêng và tính tục, giữa lễ giáo và bản năng.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Là công trình nghiên cứu văn chương trung đại Việt Nam trong cái nhìn tổng thể, liên tục suốt 10 thế kỷ (thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX).
    • Làm rõ bản chất, quy luật vận động và diện mạo của tính dục trong văn học trung đại ở cả hai bình diện nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện nghệ thuật.
    • Khẳng định tính dục là một thành tố nội dung có thực, góp phần thúc đẩy sự hình thành trào lưu nhân đạo chủ nghĩa và đánh dấu bước phát triển của ý thức cá nhân trong lịch sử văn học dân tộc.
  • Kiến nghị, giải pháp: Đề xuất mở rộng các hướng tiếp cận liên ngành (văn hóa học, phân tâm học, nhân học, thi pháp học lịch sử) trong nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam, tránh việc quy giản tác phẩm cổ điển vào các khuôn mẫu đạo đức xã hội học thuần túy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do đặc thù của văn học trung đại mang tính ước lệ cao và lực lượng sáng tác đa phần là nam giới (thường sắm vai người nói hộ tâm tư phụ nữ), việc tiếp cận tâm lý tính dục nguyên bản của nữ giới qua văn bản còn những giới hạn nhất định. Số lượng tác phẩm thời kỳ thế kỉ X–XIV có yếu tố tính dục còn ít ỏi, dẫn đến dung lượng khảo sát giai đoạn đầu chưa thực sự dày dặn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra hướng nghiên cứu so sánh đối chiếu hiện tượng tính dục trong văn học trung đại Việt Nam với văn học các quốc gia trong khu vực văn hóa chữ Hán (Trung Quốc, Triều Tiên/Hàn Quốc, Nhật Bản); hoặc nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển biến diễn ngôn tính dục trong giai đoạn giao thời từ trung đại sang hiện đại đầu thế kỉ XX.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học và Lịch sử tư tưởng Việt Nam.
  • Nội dung tham khảo giá trị: Hệ thống tư liệu lịch sử nghiên cứu chi tiết về các danh gia (Nguyễn Trãi, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ); khung lý thuyết về cảm quan tính dục trong Đạo giáo (phòng trung thuật, Tố nữ kinh); và hệ thống phân tích thi pháp biểu đạt tính dục trong các thể loại truyền kì, truyện thơ Nôm và ngâm khúc.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định khái niệm tính dục (sexuality) và tình dục (sex) như thế nào?
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của Phạm Quỳnh Phương (dẫn Bremner và Illin, 1994) để phân biệt: tình dục (sex) dùng để chỉ hành vi quan hệ thể xác; trong khi tính dục (sexuality) là một khái niệm tổng thể phức tạp bao gồm hành vi, xu hướng tính dục, cảm xúc, các mối quan hệ xã hội, giới tính sinh học, thể hiện giới và cả khía cạnh chính trị, chịu sự chi phối của bối cảnh lịch sử và văn hóa.

2. Đạo giáo và thuật phòng trung có vai trò gì đối với quan niệm tính dục trong luận án?
Theo khảo cứu của luận án, Đạo giáo không chủ trương diệt dục như quan niệm Nho giáo khắt khe mà đề ra thuật phòng trung (dựa trên các tài liệu như Tố nữ kinh, quan điểm của Tôn Tư Mạc và phân tích của Khanh Hi Thái). Thuật phòng trung hướng đến việc tiết dục, điều hòa âm dương để bồi bổ sức khỏe và dưỡng sinh, đóng vai trò như một cơ sở triết học và y học giải phóng con người khỏi sự kìm nén cực đoan.

3. Tập Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ có bao nhiêu truyện chứa yếu tố tính dục theo khảo sát của luận án?
Luận án khảo sát và xác định có 10 tác phẩm trong Truyền kì mạn lục chứa yếu tố tính dục, gồm: Chuyện nàng Túy Tiêu, Chuyện Lệ Nương, Chuyện cây gạo, Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Chuyện kì ngộ ở Trại Tây, Chuyện đối tụng ở Long cung, Chuyện Từ Thức gặp tiên, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.

4. Hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương được tổng quan qua những hệ hình tiếp cận lý thuyết nào?
Luận án tổng kết bốn hệ hình nghiên cứu chính đối với thơ Hồ Xuân Hương: (1) Hệ hình xã hội học (Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Đặng Thanh Lê, Phạm Thị Thuận); (2) Hệ hình phân tâm học Freud (Trương Tửu, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đức Bính, Văn Tân, Trần Đình Sử); (3) Hệ hình thi pháp hội hóa trang carnavalesque của Bakhtin (N. Niculin, Đỗ Đức Hiểu, Tam Vị); (4) Hệ hình văn hóa học và tín ngưỡng phồn thực (Đỗ Thị Ngọc, Đỗ Lai Thúy).

5. Tác phẩm nào được xem là đặt viên gạch đầu tiên cho đề tài cung oán trong văn học Việt Nam theo khảo sát của luận án?
Luận án chỉ ra rằng bài thơ Cung từ (Người con gái hầu vua) nằm trong tập Tiết Trai thi tập của Lê Thiếu Dĩnh (thế kỉ XV) là tác phẩm đặt viên gạch đầu tiên hình thành đề tài cung oán trong nền văn học Việt Nam, mở ra khía cạnh nữ quyền luận dưới góc nhìn của một nhà nho.

Kết luận

Luận án "Vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam" là công trình nghiên cứu định tính chuyên sâu, thực hiện việc hệ thống hóa và khái quát hóa diện mạo của yếu tố tính dục trong tiến trình lịch sử văn học viết từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Thông qua việc khảo cứu công phu trên cả hai bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, tác giả làm sáng tỏ bản chất của tính dục như một phương thức phản ánh hiện thực xã hội và là biểu hiện sinh động của ý thức cá nhân, tinh thần nhân đạo trong văn học cổ điển. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học, thi pháp học và văn hóa học Việt Nam.