Chương I là chương mở dau, cũng là chương tương đối quan trọng. Trong chương này, chúng tôi đã giải quyết được một số vấn đề sau: - Giới thiệu tong quan về văn bản Trung dung. - Giới thiệu tong quan về văn ban TDGN. - Mô tả chỉ tiết văn bản TDGN.
- Rút ra một sô nhận xét về tên tác phâm, tác giả, niên đại hoàn thành tác phẩm TDGN. - Đặt ra nhiệm vụ khi bước đầu nghiên cứu văn bản TDGN. 17 CHƯƠNG II NGHIÊN CỨU VĂN BAN TRUNG DUNG GIANG NGHIA THONG QUA VIEC XU LY TU LIEU CHU NOM Trong Chương II, Luận văn sé trình bay ba van đề, mới là về việc giảng nghĩa Trung dung bang chữ Nôm, hai là tìm hiểu chữ Nom được sử dụng trong Trung dung giảng nghĩa, ba là phiên âm từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ.1 Việc giảng nghĩa Trung dung bằng chữ Nôm 2.1 Việc giải thích nghĩa chữ Hán sang tiếng Việt thông qua chữ Nôm Chữ Hán có mặt trên đất Việt Nam khoảng gần 2000 năm liên tục từ thời Bắc thuộc cho mãi đến đầu thế kỷ XX, được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống văn hóa, chính trị của xã hội Việt Nam. Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X (năm 938), người Việt trực tiếp tiếp xúc với tiếng Hán.
Nhà Hán đã mở trường dạy chữ Hán ngày càng nhiều ở Giao Châu, điều đó càng khiến cho tiếng Hán và chữ Hán ngày càng ảnh hưởng tới người Việt. Chữ Hán vừa là phương tiện, vừa là bằng chứng của quá trình tiếp xúc giao lưu văn hóa dài lâu giữa Việt Nam và Trung Hoa ở những thiên niên kỷ sau Công nguyên. Trước thế kỷ X, người Việt Nam dùng chữ Hán đọc như người Hán, học chữ Hán thực chất như là học một sinh ngữ. Đến đầu thế ky X, Việt Nam bước vào thời kỳ tự chủ thì tiếng Hán không còn tư cách là một sinh ngữ nữa mà người Việt vẫn dùng chữ Hán như cũ nhưng lại đọc theo cách riêng của mình là đọc theo cách đọc Hán -Việt.
Cách đọc này đã ảnh hưởng vào tiếng Việt làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú hơn. Chữ Hán dù sao cũng vẫn là một văn tự ngoại lai vốn chỉ được tầng lớp trên như quan lại, trí thức quen dùng, đã đến lúc không đáp ứng được nhu cau ghi chép của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Bị tách khỏi môi trường sinh ngữ, chữ Hán càng không đáp ứng được nhu cầu diễn tả 18 mọi mặt của cuộc sống, những diễn biến tình cảm hết sức uyên chuyên, tinh tế của người Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó, cần phải có một nền văn tự riêng của người Việt là nhu cầu rất tự nhiên.
Chữ Nôm ra đời đáp ứng nhu cầu đó của lịch sử. Cho đến thời điểm xuất hiện chữ Nôm thì chữ Hán đã có lịch sử hàng ngàn năm rất quen thuộc với người Việt Nam. Đó cũng là một thuận lợi đối với việc vay mượn chữ Hán để tạo chữ Nôm. Chữ Nôm được tạo ra trên cơ sở các chữ vuông Hán, bởi vậy nếu không có trình độ chữ Hán ở một mức độ nhất định thì người Việt cũng không thé viết và đọc chữ Nôm.
Khi Việt Nam có nhu cầu phải có một nền văn tự riêng thì trên đất Việt đã có một đội ngũ hùng hậu những người Việt Nam có trình độ hiểu biết sâu về chữ Hán và nền văn hóa Hán. Họ chính là những người đầu tiên tham gia vào việc sáng tạo chữ Nôm va sau này những người kế tiếp họ sẽ có vai trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện chữ Nom. Ké từ khi chữ Hán bắt đầu du nhập vào Việt Nam đến khi bị thay thế băng văn tự khác- chữ Quốc ngữ (đầu thế kỷ XX) - thì việc dạy chữ Hán đã ton tại song song với quá trình đó. Một hệ quả lớn trong việc phô biến chữ Hán ở Việt Nam là sự ra đời các sách dạy chữ Hán, trong đó có sách đơn ngữ (chữ Hán) và song ngữ (Hán- Nôm).
Để giải thích chữ Hán sang tiếng Việt, trong quá khứ người ta dùng các khái niệm: giải nghĩa - giảng nghĩa và giải âm, nhưng tất cả đều là nghĩa của chữ Hán được giải thích sang tiếng Việt thông qua chữ Nôm. Với tính chất là sách dạy chữ Hán cho người mới học thì các sách song ngữ Hán- Nôm như: Chi nam ngọc âm giải nghĩa, Tam thiên tự giải âm, Nhật dụng thường đàm, Đại Nam quốc ngữ. trong loại hình sách này đã lấy các cấp độ ngôn ngữ: tw, fừ, cum từ làm đơn vị cơ sở dé giải thích nghĩa chữ Hán. Không dừng lại ở đó, trong quá trình giao lưu văn hóa với Trung Hoa, người Việt chúng ta được tiếp xúc với những bộ sách kinh điển của họ.
Để hiểu các văn bản Hán văn người ta có thé giải nghĩa, giảng nghĩa, diễn nghĩa, diễn ca, thuyết ước, tiết lược, tỉnh nghĩa.Mỗi một phương thức đều có mang đặc trưng riêng của mình. 19 Riêng sách Trung dung đã được các nhà Nho diễn ca, giảng nghĩa, thuyết ước. Mục đích giảng nghĩa là không những diễn ra mà còn giảng nghĩa, giảng giải ý tường tận ý nghĩa, giúp cho người đọc có thê nắm bắt được nội dung chính của nó.2 Việc giảng nghĩa Trung dung bằng chữ Nôm + Trung dung giảng nghĩa và sự thể hiện quan điểm, ph ơng pháp diễn Nôm một văn bản chữ Hán Có thé nói, xuất phát điểm của nền dịch thuật tại Việt Nam là từ dịch thuật phụ vụ tôn giáo mà chủ yếu là truyền bá đạo Phật. Sau đó, nó đã tiến lên một bước từ dịch thuật phục vụ tôn giáo sang dịch thuật các sách kinh điển, sách văn hoc, phục vụ cho nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật của tòan xã hội.
Theo Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nang- Trung tâm Từ điển hoc, 2002, Hoàng Phê chủ biên có ghi: “gidng”: trình bày kiên thức cặn kẽ cho người khác hiệu; “giang nghĩz”: nói cho rõ nghĩa cua từ ngữ, câu văn, bài văn. Tại Việt Nam, sách giảng nghĩa Ti thw, Ngũ kinh nói chung và sách Đại học, Trung dung nói riêng không phải là nhiều. Có thé liệt kê một số sách tiêu biéu như sau: - Đại học giảng nghĩa K “ i 3Š là bản dich Nom sách Dai học có kèm chú giải gốc chữ Hán của Chu Hi và bài nói về sách Đại học.
Đại học giảng nghĩa không rõ tác giả, hiện có một bản viết tay 30 trang, ký hiệu AB. - Đại học tích nghĩa K #8 lift 3Š do Lê Văn Ngữ biên soạn và viết tựa năm 1927, giảng giải sách Đại hoc của Tăng Tử, có viện dẫn Kinh thu, Luận ngữ, Mạnh Tử để thuyết minh. Có một số bài bàn về sách Luận ngữ, Trung dung. Đại học tích nghĩa có ký hiệu A.
20 - Tứ the ước giải VU A fft của Lê Quy Đôn do Lê Quý Đôn soạn, in năm 1839. Cuốn sách diễn giải băng chữ Nôm một số chương trong Tir thu. - Dịch kinh giảng nghĩa AGF do Pham Dan Sơn soạn, nội dung: dịch Kinh Dịch ra chữ Nôm. - Thi Kinh diễn âm ä3§&ŠŸ8L?ï, nội dung diễn Nom kinh Thi.
Như vậy, Trung dung giảng nghĩa nằm trong hệ thống sách giảng giải về Tứ thu, Ngũ kinh bang chữ NÑôm. Nhu chúng ta đã biết, Tứ thu, Ngũ kinh nói chung và Trung dung nói riêng là bộ sách giáo khoa cho chế độ giáo dục khoa cử thời kỳ phong kiến. Trung dung có nghĩa là ở mức vừa phải. Chưa cần xét tới những ý nghĩa cao xa, ta cũng nhận thấy đây là chủ trương của nhà Nho, rất thực tiễn, khuyên người ta tránh chỗ cực đoan, chớ thái quá mà cũng đừng bat cập.
Việc giảng dạy, nghiên cứu tìm hiểu, truyền bá kinh điển Nho giáo đã được các nhà Nho Việt Nam hết sức đề cao. Đối với người Việt nói chung, việc tiếp xúc và hiểu đúng nội dung Trưng dung (Hán văn) là có phan hạn chế vì thé các nhà Nho Việt Nam đã dùng chữ Nom để giảng nghĩa Trung dung, nhằm mục đích giúp cho số đông người Việt sẽ có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về tư tưởng của Nho giáo. Chính vì thế, ta có thê đoán định tác giả của Trung dung giảng nghĩa chắc chắn phải là người thông sách kinh sử, là người có tri thức uyên bác, có trình độ, có kỹ năng giảng dạy (có thể là nhà giáo). + Giảng nghĩa nội dung Trung dung bằng chữ Nom Di vào nghiên cứu văn bản Trung dung giảng nghĩa, sau đoạn giới thiệu Mục lục sách là đến đoạn Chu Hi dẫn lời của anh em họ Trình- Trinh Hiệu và Trình Di mà ông rat phục, tôn làm thay.
Thầy Trình Tử dạy rằng: “chẳng méch ấy rang chữ trung, chăng đổi ấy rằng chữ dung. Trung ấy là đạo chính trong thiên hạ. Dung ấy là lẽ định trong thiên hạ”. Doan này ngoài việc giải thích nghĩa của “trung” TƑ, 21 “dung” Jaf thì có nói đến nguồn gốc của sách Trung dung, von đó là tâm pháp Khổng Tử dùng dé truyền dạy trong đám học trò, Tử Tư so rang vì lâu ngày mà sai lạc đi, nên chép vào trong sách để truyền cho Mạnh Tử.
Sách này mở đầu nói về một lý duy nhất, đọan giữa mở rộng ra muôn việc, đoạn cuối lại gom về lý duy nhất. (Đạo trung dung) mở rộng ra thì phé cập khắp vũ trụ, gom về thì lui vào chỗ kin đáo. Ý vị của nó vô cùng, đều là việc học thiết thực. Người nao khéo đọc biết Suy ngẫm, chiêm nghiệm, sẽ học được điều tâm đắc, đem sử dụng suốt đời chăng hết ^ vậy.
Tiếp đó, từ chương 1 đến chương 20, là kinh văn chép lời Không Tử. Cụ thê: đoạn trên đã cho biết thé nào là Trung TƑ', thé nào là Dung ƒš, thì đoạn tiếp theo- Chương 1- “trung hòa là căn ban của thiên hạ”, cho định nghĩa của một sé tr: Trung F, Hòa #1, Tính †‡, Dao if, Giáo #. Mệnh Trời, một trong những phạm trù trọng yếu trong hệ thống tư tưởng của Không Tử. Tử Tư phát huy tư tưởng “thiên mệnh” của Không Tử mà nêu ra mệnh đề: “Thiên mệnh chi vi tinh, suat tinh chi vị đạo, tu dao chi vi giáo” (Troi phú đức cho ấy rang Tinh, người noi tính làm ấy rằng Dao, đẳng Thánh nhân sửa lại dao ấy bảo rằng Dạy).
“Tính” là gì? Tính là cái mà tự nhiên bâm phú cho người mà người ta bam thu lay. Thuộc về “thiên” thì gọi là “mệnh”, phú vào người ta rồi thì gọi là “tính”.